I. Vị trí đại lý, tự nhiên
1. Vị trí địa lý:
Xã Đông Cương nằm phía Tây Bắc thành phố Thanh Hoá
Phía Bắc giáp Thiệu Vận, Thiệu Khánh (huyện Thiệu Hoá )
Phía Nam giáp Đông Thọ, Xã Đông Lĩnh huyện Đông Sơn
Phía Đông giáp phường Hàm Rồng, phường Đông Thọ
Phía Tây giáp Đồng Lĩnh, huyện Đông Sơn, Xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa.
2. Diện tích tự nhiên: 660 ha
Diện tích đất ở và đát canh tác: 450 ha
3. Dân số: 8.306 người; Nam : 150 người; Nữ: 4.156 người
4. Mật độ dân số: 1.226 người/ km2
II. Quá trình hình thành và phát triển.
1. Tên xã: Xã Đông Cương được thành lập năm 1953 với 3 làng Định Hoà, Đại khối và Hạc Oa (thuộc huyện Đông Sơn). Từ năm 1996 đến nay chuyển về thành phố Thanh Hoá (có nghị định của Chính phủ)
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 làng Đình Hoà có tên là Đình Hương, thuộc xã Văn Nhưng, tổng thọ hạc huyện Đông Sơn. Sau cách mạng, từ năm 1945 đến 1947 thuộc xã Long cương, từ năm 1953 đến nay thuộc xã Đông Cương.
- Làng Đại Khối có tên là Đông Khối thuộc tổng thọ hạc sau cách mạng từ năm 1345 đến năm 1953 thuộc xã Đông Lĩnh, từ năm 1953 đến nay thuộc xã Đông Cương
- Làng Hạc Oa có tên là Đông Thổ, trước cách mạng thuộc xã Đại Khối. Sau cách mạng từ năm 1945 đến 1947 thuộc xã Đông Cương, từ năm 1947 đến 1953 thuộc xã Đông Lĩnh. Từ năm 1953 đến nay thuộc xã Đông Cương.
Dưới làng chia thành xóm. Làng Đại Khối có 3 xóm: một, hai, ba.
Làng Đình Hoà có 4 xóm: năm, sáu, bảy và xóm Đình Hương.
Làng Hạc Oa có hai xóm: một và hai.
Đường phố trong xã chỉ có một đường phố, đường Đình Hương
III. Địa hình.
Hơn một nữa diện tích tự nhiên trong xã là núi đá vôi và lớn nhất là dãy núi đá vôi nằm về phía đông bắc tiếp giáp với làng Đông Sơn thuộc phường Hàm Rồng.
Phía tây bắc có núi con voi giáp với xã đông lĩnh, xã thiệu giao. Trong núi có hang động, chân núi có di chỉ đồ đá mới.
Sông có các con sông nội địa: Thọ Hạc, Chi giang 19 và 69
VI. Di tích
Trong mỗi làng đều có đình, chùa văn chỉ, võ chỉ và các đền thờ thành hoang làng và phúc thần.
1. Sơ lược các vị thần ở các đền trong xã.
Làng Đại Khối có 3 thần
- Phụ Quốc tôn thần.
Sự tích: thần họ lê một danh tướng thời lý có công danh đuổi giặc ngoại xâm. Khi mất được nhân dân lập đền thờ. Qua các triều đại đều có sắc phong.
- Bạch Đại Vương Tôn Thần
Sự tích: Trong làng có một cây đa từ ngàn xưa,cành lá xum xuê tỏ rộng hàng mẫu đất. một hôm đoàn nghĩa quân Lê Lợi đi qua làng gặp trời mưa tướng và quân đều kéo vào gốc cây đa để ẩn. đêm ấy trong lúc nhà vua ngủ thấy một vị tướng đầu râu bạc phơ đến trước nhà vua xưng là Bạch Đa được Ngọc hoàng cử xuống giúp nhà vua đánh giặc. khi tỉnh giấc nhà vua biết mình năm trong mộng và từ đó về sau đánh trận nào thắng trận ấy. Khi đất nước đánh đuổi được giặc ngoại xâm nhà vua nhớ đến giấc mộng ấy, bèn thêu hai chữ “Đại Vương” phong sắc và sức cho dân làng thờ phụng. Từ đó về sau, đền thờ rất thiêng, cầu gì được nấy qua các triều đại đều có sắc phong.
- Tổng giám Thượng Tướng Quân Tôn Thần (Thành Hoàng làng).
Sự tích: Thần họ Đỗ, huý Thành, theo Lê Lợi khởi nghĩa, được ban quốc tính Trải nhiều trận đánh lập nhiều chiến công. Ngài mất năm Bính Ngọ (1426) được phong tặng “Suy Trung Đồng Đức, hiệp mưu, bảo chính công thần Thiêm Lộ Hầu”, lại thêm chức Thái uý.
Đời Hồng Đức, thần được truy phong “Bình Ngô khai quốc công thần, gia tặng Trang quốc công”. Qua các triều đại đều có sắc phong.
Làng định hoá.
- Kiều Lệ Tôn Thần (thờ chung với làng Đông Tác – xin xem sự tích của thần ở làng Đông Tác).
- Trinh Liệt Quận Phu Nhân Tôn Thần:
Sự tích: Thần họ Nguyễn, huý là Cả. Thần người Hương Lam Sơn, phường Bảo Lộc. Thần cùng chồng theo Lê Lợi trải nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Thần hi sinh cùng chồng trong một trận đánh, nhà vua nghe tin bà tuẫn tiết, rất thương tiếc và phong bà là Quận Phu Nhân, thuỵ là Trinh tiết. Qua các triều đại đều sắc phong.
- Từ thiện Quận Phu Nhân Tôn Thần:
Sự tích: Thần họ Nguyễn, huý là Phái, người ấp Định Hương (nay là Định Hoà). Thần là vợ thứ của Trang Quốc Công Lê Thành. Thần sinh được bốn người con trai, thay chồng nuôi con khôn lớn. Sau, bốn người con đều theo Lê Lợi đánh giặc cứu nước. Các con đều làm nên sự nghiệp.
Khi thần mất, nhà vua phong thuỵ Từ Thiện Quận Phu Nhân, lại sai sứ giả mang tiền công giao cho dân chọn đất tốt an táng và lập đền thờ. Qua các triều đại đều có sắc phong.
- Thượng ngàn thiên công chúa tôn thần.
Sự tích: Thuộc địa phận làng đình hương có một ngọn núi rất cao, trên đỉnh núi có một bàn đá hình người, thời tiền cổ có bia khắc chữ: “Sơn Tinh Công Chúa”. Vào những đêm khuya thanh vắng, người ta nhìn thấy chỗ bàn đá hình người áy có một bó đuốc lớn lập loè khi tối khi sáng, lúc lên lúc xuống. Nhân dân lập đền để thờ, rất được linh ứng. Các triều đại đều có sắc phong (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm các làng trong hai tổng Thọ Hạc và Bố Đức (Đông Sơn) và một số làng thuộc tổng Lưu Thanh (Quảng Xương) rước kiệu về đền để tế gọi là giỗ mẹ).
Làng Hạc Oa.
- Chiêu Hồng Đổng Suý Dực Vận Tôn Thần.
Sự tích: Vào thời nhà Trần, nhà vua đi đánh giặc Nguyên Mông. Đến làng thì trời đã tối, nhà vua cho quân sĩ nghỉ tạm còn bản thân nhà vua vào chùa để nghỉ. Đêm ấy, nhà vua vừa thiu thiu ngủ thấy có vị tướng đai câu sáng rực, đến trước mặt vái một vái rồi nói rằng: “ Tôi là Thiên tướng, hiện là “Chiêu Hồng Đổng Suý” được thượng đế sai xuống, giúp nhà vua đánh giặc!”. Nói xong, vái một vái rồi lui ra. Tỉnh giấc, nhà vua mới biết mình nằm mơ nhưng lòng lại tin là sự thực, bèn sai quan bộ lễ sắm lễ vật tạ ân.
Sáng hôm sau, đoàn quân ra đi gặp giặc, chưa đánh, giặc đã bỏ chạy. Khi khải hoàn, nhà vua sức cho dân lập đền thờ và phong thần, lấy duệ hiệu : “Chiêu Hồng Đổng Suý tôn thần”.
Đến đời nhà Lê (Lê Lợi), trong buổi đầu còn đang đi liên kết với các hào kiệt trong vùng. Một lần qua đây bị giặc Ngô đuổi bắt, ngài (Lê Lợi) chạy vào đền trốn, được thần phù giúp, thoát nạn. Khi đánh đuổi giặc Minh, đất nước trở lại thanh bình, nghĩ đến công bảo vệ lúc hàn vi nên ngài cấp đất dựng đền. Qua các triều đại đều có sắc phong tặng.
- Mộc Hoàn cư sĩ tôn thần.
Sự tích: Ngày ấy, xa xưa lắm, có một năm, trời làm trận lụt lớn. Nước đổ cánh đồng trước làng trắng xoá. Trong dòng nước chảy có một cây gỗ to đến bốn người ôm không xuể, dân các làng hò nhau ra kéo không được. Đến khi có hai cụ già người làng Hạc Oa ra kéo rất nhẹ nhàng. Hai ông già ấy kéo gỗ về đến giữa làng thì không tài nào kéo nổi. Cả làng mỗi người một tay kép giúp cũng không được đành để lại đấy.
Sáng hôm sau dân làng kéo ra thì cây gỗ không thấy đâu cả mà chỉ thấy ngôi đền to đẹp, trong đền có bức thần vị có dòng chữ: “ Mộc Hoàn Cư sĩ tôn thần”. Thấy chuyện lạ, dân làng báo cáo với triều đình. Nhà vua cử người về xem xét quả đúng như lời trình, bèn cấp giấy công nhận và phong sắc, vị thần rất hiển linh. Qua các triều đại đều có sắc phong.
2. Bia:
- Vĩnh thế hương hoả vi ký tại làng Đại Khối, dựng năm Vịnh Trị Thứ … (1677). Hương hoả bi ký tại làng Đại Khối, Vĩnh Khánh thứ 3 (1731).
- Hậu phật bi ký tại Hạc Oa, Cảnh Hưng thứ 36 (1775).
- Hậu Kỵ bi ký tại Đông Khối, Minh Mệnh thứ 8 (1827).
- Trùng tu quán Đặng Long, Đông Khối, Tự Đức thứ 5 (1852).
- Định Hương thôn Thạch Giang bi ký, dựng năm Tự Đức thứ 8 (1855).
- Văn hội bi ký Hạc Oa, dựng năm Tự Đức thứ 8 (1855).
- Vũ chỉ bi ký Đại Khối, Kiến Phúc thứ 2 (1884).
- Ký kỵ bi ký tại Đình Hương, Thành Thái thứ 2 (1890).
- Đình Hoà bi ký, Thành Thái thứ 5 (1893).
- Trùng tu Thạch bi ký Định Hoà, Thành Thái thứ 6 (1894)
- Đại Khối thôn bi, Thành Thái thứ 18 (1906)
- Ký kỵ bi ký Đông Khối, Bảo Đại thứ 5 ( 1930).
V. Kinh tế và đời sống:
1. Công nghiệp và thủ công nghiệp: Khai thác đá xây dựng và làm gạch.
2. Nông nghiệp: 80% số hộ.
Cấy hai vụ lúa, giống mới cho năng suất cao, ngoài ra còn có trồng mầu: Ngô, khoai, lạc và các loại rau.
Chăn nuôi trâu bò, làm sức kéo, gà, ngan, ngỗng, vịt và lợn.
Trong xã có chợ diện tích 200m 2, đang nâng cấp.
3. Đời sống:
- Nhà tầng: 195 cái. chiếm 11%.
- Nhà cấp 4: 623 cái, chiếm 35%.
- Nhà gỗ lợp ngói: 961 cái, chiếm 54%.
- Tiện nghi:
- Xe máy : 115 cái.
- Tủ lạnh: 350 cái.
- Ti vi, đầu video chiếm 70% số hộ.
- Phương tiện vận tải:
- Xe tải : 3 cái.
- Xe công nông và 15 phương tiện vận tải thô sơ.
VI. Các cơ quan của tỉnh và thành phố đóng trên địa bàn:
1. Cơ quan:
- Đội 7 giao thông
- Kho xăng dầu
- Xí nghiệp bao bì quân đội
- Đơn vị bộ đội xăng dầu.
- Xưởng cơ khí cầu đường sắt 1.
2.Trường học:
- Cấp tỉnh: + Trường công nhân cơ khí tỉnh.
+ Trường của xã
+ Trường mầm non Đông Cương
+ Trường tiểu học Đông Cương.
+ Trường trung học cơ sở Đông Cương
VII. Nhân vật chí:
Đội Cung: Tên thực làn Nguyễn Văn Cung (1903 - 1941). Ông quê làng Hạc Oa, tổng thọ hạc huyện đông sơn (nay la xã đông cương thuộc thành phố Thanh Hoá) giữ chức đội trưởng lính khố xanh (quân đội nam triều), lãnh đạo khởi nghĩa ở chợ Rạng và Đô lương (Nghệ An). Năm 1941 cuộc khởi nghĩa thất bại . ông bị thực dân pháp bắt, kết tội tử hình.
VIII. Danh hiệu cao quý:
1. Phường được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang
2. Bà mẹ việt nam anh hùng
Mẹ Nguyễn Nhum (đã mất )
Mẹ Lê Thị Sún (đã mất )
Mẹ Lê Thị Lâm (đã mất )
Mệ Đàm Thị Lợi (đã mất )
+ Liệt sĩ: 134 người.