CHƯƠNG II:TỪ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐẾN TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945

Ngày 04/11/2014 16:12:12

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

 I. HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CÁCH MẠNG
1. Khái quát tình hình Thành phố cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm ba nước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào), thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, đặt Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là đất bảo hộ không có vua, Trung Kỳ là đất bảo hộ có vua, Lào và Cao Miên cũng vậy; nhưng trong thực tế đều do thực dân Pháp thống trị. Chúng quy định cả 3 xứ hợp lại thành Liên bang Đông Dương do Toàn quyền Đông Dương thay mặt Chính phủ Pháp cai quản, Nam Kỳ có Thống đốc, Bắc Kỳ có Thống sứ, Trung kỳ có Khâm sứ, các tỉnh có Công sứ chủ tỉnh. Tất cả những chức vụ đó đều do người Pháp đảm nhiệm. Bộ máy vua, quan Nam triều tại Huế chỉ là bộ máy thừa hành của Pháp.
Về kinh tế, thực dân Pháp ra sức đẩy mạnh khai thác thuộc địa, vơ vét nguyên liệu Việt Nam (và cả hai xứ Cao Miên, Lào) đem về chính quốc phát triển công nghiệp.
Thời thuộc Pháp (1885-1945) với chính sách triệt để khai thác thuộc địa làm giàu cho chính quốc thì phần “thị” của tỉnh lỵ Thanh Hóa có bước chuyển biến mới. Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã (1901-1905), tuyến đường sắt Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh được nối liền (1905). Hệ thống nông giang vừa cấp nước cho đồng ruộng, vừa tận dụng vận chuyển nông lâm, thổ sản về tập kết tại kho ba-ti (Petit dépôt), kề nhà Ga Thanh Hóa. Tư bản Pháp chú ý mở một số nhà máy chế biến nông sản, hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt của tầng lớp trên như: nhà máy rượu, nhà máy đèn, nhà máy nước, nhà máy diêm… Nhà máy Diêm Hàm Rồng (1905), khách sạn Reynaud (Rây-nô)… đều là những cơ sở kinh doanh phục vụ của các công ty cổ phần tư bản Pháp.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, không phải chỉ có riêng tư bản Pháp hoạt động kinh tế, mà còn có cả tư sản Hoa kiều, Ấn kiều hoạt động thương nghiệp tại Thành phố. Một số hiệu buôn lớn của người Hoa như Tân Thành Vinh, Phúc Hưng, Nhân Hòa Đường, Cẩm Chân, Lưỡng Long… chuyên buôn bán các mặt hàng bách hóa; còn một số cửa hàng của người Ấn chuyên buôn vải như Môhamed Ít-sup, Halipha… Tư sản người Việt cũng ráo riết bỏ vốn hoạt động trong các ngành công thương, như: Nam Đồng Ích công thương Hội (1-12-1928) chuyên sản xuất rượu và kinh doanh hàng nội địa các thứ gỗ quý đặc sản của miền Trung. Gốm Đức Thọ (Lò Chum) là một cơ sở được xếp vào loại lớn ở Đông Dương, sản phẩm được bán cả trong Nam ngoài Bắc. Nghề sản xuất bánh kẹo nổi tiếng là hiệu Tiến Lợi. Ngành chụp ảnh có các hiệu Nguyễn Khắc Khoan, Mỹ Hữu Đào. Kinh doanh ngành ăn uống có khách sạn Hoàng Đức Trường, Nam Hải. Kinh doanh nghề vận tải ôtô chạy các tuyến đường trong tỉnh và cho thuê chuyến như hãng Nguyễn Văn Quy. Kinh doanh vàng bạc có hiệu Thuận Xương. Hiệu cầm đồ lớn nhất có Chu Bảo Đỉnh. Kinh doanh vải sợi có Thành Phát, Tinh Hoa. Hiệu thuốc bắc có Thắng Long, nhà thuốc tân dược có Phan Văn Giáo.
Tuy nhiên, hầu hết các ngành kinh doanh nhỏ hẹp do tư sản bản xứ tiến hành đều bị tư bản nước ngoài, nhất là tư bản Pháp chèn ép triệt để.
Về văn hóa xã hội, chỉ có con em các tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản được hưởng quyền học tập, có cuộc sống sung túc giàu sang, còn tuyệt đại đa số nhân dân sống trong cảnh dốt nát, đói cơm, thiếu thuốc, mù chữ…
Mặc dù vậy, vào thời điểm này tại thành phố Thanh Hóa đã có hai trường tiểu học: Trường tiểu học Pháp – Việt Thanh Hóa và trường tiểu học Đông Sơn. Mỗi trường đều có đủ 6 lớp từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất, hồi bấy giờ nhiều trường ở các phủ và huyện chỉ có đến lớp sơ đẳng (lớp 3), chỉ có một số trường có đến lớp nhất. Học sinh thi tốt nghiệp tiểu học buộc phải về thi ở trường Tỉnh.
Với chính sách khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, một giai cấp mới đã ra đời là giai cấp công nhân (còn gọi Thợ áo xanh). Họ bán sức lao động trong các xưởng máy, hầm mỏ, đồn điền của tư bản Pháp. Hàng ngày quần quật lao động từ 12 -14 tiếng đồng hồ, họ bị vắt kiệt sức lực, nhưng với đồng lương rẻ mạt, không đủ sức tái tạo sức lao động. Không những thế họ còn bị đánh đập, cúp phạt, đe dọa sa thải và tai nạn lao động thường xuyên. Là đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, mặc dù số lượng còn ít, nhưng đã trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam khi có Đảng Cộng sản là Bộ tham mưu.
Thời kỳ này ở Thành phố Thanh Hóa chưa có nhiều thợ áo xanh, mà phần lớn là thợ áo nâu (những nông dân thoát ly đồng ruộng sau vụ cấy gặt). Họ cũng bán sức lao động từ sáng sớm tinh mơ đến tối khuya mới được về.
Dù là thợ áo xanh hay thợ áo nâu, họ đều có mâu thuẫn sâu sắc về quyền lợi chính trị – kinh tế với tư bản Pháp và tư sản bản xứ và với giai cấp địa chủ, phong kiến quan lại.
Giai cấp tư sản bản xứ ra đời sau giai cấp công nhân, vừa nhỏ bé lại bị chèn ép về mọi mặt, nên có mâu thuẫn về quyền lợi với đế quốc phong kiến. Bên cạnh đó giai cấp tư sản bản xứ chiếm hữu tư liệu sản xuất, bóc lột công nhân, nông dân nên còn có mâu thuẫn với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tầng lớp tư sản ở thành phố Thanh Hóa không nhiều, vốn liếng ít ỏi, số lượng công nhân thuê mướn ít, nhưng hoạt động ở nhiều lĩnh vực như: thương nghiệp, dịch vụ, vận tải, sản xuất, trong số đó có các nhà tư sản ở Lò Chum xuất thân từ người thợ cả giỏi nghề, tích lũy được vốn, mở một, hai lò nung nên gắn bó với thợ bạn, thợ học việc.
Tầng lớp tiểu tư sản Thành phố là những người thợ thủ công, tiểu thương buôn bán vặt, vốn ít hoặc không có vốn nên phải nhận làm đại lý bán hàng cho tư sản Pháp để hưởng hoa hồng, hoặc là các viên chức công sở, tư sở… Nhìn chung tầng lớp này có mức sống thấp, đời sống bấp bênh và luôn luôn bị đe dọa phá sản thất nghiệp. Giáo viên và học sinh cũng được xem là tầng lớp tiểu tư sản. Trong điều kiện giảng dạy và học tập bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, họ có điều kiện thuận lợi để tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại và chính họ giữ vai trò tuyên truyền, giác ngộ vận động cách mạng trong quần chúng lao động, là ngòi nổ cho phong trào cách mạng ở Thành phố, là đồng minh của giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo cách mạng vô sản ở Việt Nam.
Tại Thành phố, còn có những hộ kinh doanh công thương nghiệp dư vốn, đã bỏ tiền tậu ruộng ở nông thôn cho phát canh thu tô. Họ là những công thương gia kiêm địa chủ. Cũng có những địa chủ có ruộng đất phát canh thu tô, nhưng phần nhiều là địa chủ nhỏ.
Giai cấp nông dân có ít đất canh tác hoặc nhận cày ruộng rẽ cho địa chủ, cho nhà chùa, nhà thờ, cho những người có ruộng mà không canh tác được…, phải lao động dịch vụ, phục vụ, làm thuê dưới mọi hình thức để sinh sống. Với tình hình xã hội như trên, nhân dân Thành phố có điều kiện thuận lợi để tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng xã hội tiến bộ.
2. Những người yêu nước Thanh Hóa đến với con đường cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoà theo dòng chảy cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc, phong trào đấu tranh của nhân dân Thành phố Thanh Hóa diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú và quyết liệt.
Vụ chống thuế ở Trung Kỳ gắn liền với sự phát triển Đông kinh nghĩa thục ở ngoài Bắc (1908), trong cả hai phong trào đều có sự tham gia tích cực của các trí thức nho học trong tỉnh nên giới cựu học ở Thanh Hóa bị chính quyền thực dân – phong kiến khủng bố ác liệt, đàn áp dã man.
Không những thế, chúng còn câu kết với quân phiệt Nhật Bản trục xuất người Việt Nam yêu nước đang sinh sống trên đất Nhật. Tại Trung Quốc, năm 1912 Phan Bội Châu đã thành lập Việt Nam Quang phục hội với mục đích đấu tranh “thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam”. Tiếng súng của đạo quân Quang phục từ biên giới phía Bắc dội về trong nước (1914-1918), những tài liệu Chiêu hồn nước, Việt Nam hồn, Hải ngoại huyết thư… được chuyển về trong nước. Giới cựu học và tân học Thanh Hóa đọc các tài liệu trên lại hội tụ nhau lập nên các nhóm đi tìm đường hoạt động cách mạng mà phần lớn đều qua thành phố, trung tâm của cả tỉnh.
Từ năm 1923, Lê Hữu Lập - một thanh niên yêu nước, có chí khí đã được Đinh Chương Dương - một chí sĩ yêu nước giác ngộ và vào giữa năm 1924, anh được đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia tổ chức Tâm Tâm xã, đúng lúc tiếng bom Phạm Hồng Thái “nhóm lên ngọn lửa chiến đấu… Báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa Xuân”.
Tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – một tổ chức cách mạng theo tư tưởng chủ nghĩa Mác.
Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã mở những lớp huấn luyện chính trị. Lê Hữu Lập là một trong số những thanh niên ưu tú được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn và là người Thanh Hóa đầu tiên được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Cuối năm 1925, sau khi học xong Lê Hữu Lập được cử trở lại trong nước với hai nhiệm vụ: vận động thanh niên yêu nước sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện và tuyên truyền Đường Kách mệnh trong thanh niên, lựa chọn người tốt để tổ chức họ vào Hội.
Lê Hữu Lập về đến Thanh Hóa giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên, giáo viên và học sinh đang sôi động đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu mà chúng đã bắt vào cuối năm 1925 rồi bí mật đưa về nước giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). Đông đảo giáo viên, học sinh Thành phố và các vùng lân cận đẩy mạnh cuộc vận động lấy chữ ký gửi Toàn quyền, cũng nô nức kéo về Thành phố, để cùng với nhân dân biểu lộ tình cảm với nhà yêu nước khi thực dân Pháp giải Phan Bội Châu qua Thanh Hóa về giam lỏng ở Huế.
Ngày 25-3-1926, được tin nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua đời ở Sài Gòn, tầng lớp sĩ phu nho học do cử nhân Nguyễn Đan Quế đứng ra tổ chức lễ truy điệu cụ Phan tại nhà người anh ruột là Nguyễn Hoàng Hòe ở Đức Thọ (Lò Chum). Giáo viên, học sinh tân học cũng tổ chức lễ truy điệu để tang cụ Phan tại một địa điểm trong Thành phố.
Phong trào yêu nước lên mạnh, nhưng chưa có đường lối chính trị và tổ chức cách mạng rõ ràng. Lực lượng tham gia phong trào vừa tìm phương hướng vừa gây dựng tổ chức cách mạng. Lê Hữu Lập kịp hòa mình vào phong trào quần chúng, khẩn trương tiến hành những hoạt động tuyên truyền giác ngộ cho lớp thanh niên hăng hái trong phong trào đang lên ở địa phương, đem hạtgiống cách mạng vô sản gieo vào vườn ươm yêu nước đã được chuẩn bị. Qua đó Lê Hữu Lập đã tuyển lựa đưa Nguyễn Văn Đắc và Nguyễn Văn Khang (Thành phố Thanh Hóa) cùng một số thanh niên ưu tú khác ở Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Nông Cống,… sang Quảng Châu (Trung Quốc) trong chuyến đi đầu tiên ngày 14-7-1926, dự các lớp huấn luyện cán bộ do Nguyễn Ái Quốc mở.
Vốn là học sinh cũ của Trường Tiểu học Pháp - Việt, có nhiều bạn học, biết nhiều thầy giáo, quen nhiều học sinh đã thôi học, lại được Nguyễn Ái Quốc bồi dưỡng về mục đích, phương pháp vận động cách mạng, Lê Hữu Lập đã nhanh chóng tập hợp được lớp thanh niên trong giáo viên, học sinh và những thanh niên đã rời ghế nhà trường là lực lượng hăng hái hoạt động nhất lúc bấy giờ. Nếu như phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (11-1925), hoặc phong trào tổ chức lễ tang cụ Phan Châu Trinh (24-3-1926) và giỗ đầu Cụ  Phan (24-3-1927) tại Thị xã là do nhân sĩ cựu học khởi xướng có xin phép nhà cầm quyền, có sự tham gia của giáo viên, thanh niên học sinh, thì những phong trào tiếp sau đó do lực lượng giáo viên, thanh niên học sinh hai trường Tiểu học: Pháp – Việt thành phố và Đông Sơn chủ động tổ chức, nhờ đó đã được tiếp thu nội dung phương hướng của Đường Kách mệnh mà Lê Hữu Lập đã học ở Quảng Châu truyền đạt lại, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Thành phố.
Hoạt động tuyên truyền giác ngộ lúc này không chỉ dừng ở các cuộc gặp nói chuyện riêng lẻ với từng người, từng nhóm, mà nhằm tuyên truyền có chiều sâu và tập dượt về mặt tổ chức, Lê Hữu Lập đã lập ra Hội đọc sách báo cách mạng (5-1926) tại số nhà 26 phố Thợ Thêu, Thành phố Thanh Hóa, gồm 10 người, gọi là “Thập nhân chi hội” do Lê Công Thanh, người Thiệu Hóa, là giáo viên chủ trì.
Hội viên của Chi hội này hầu hết là các thầy giáo. Chi hội thứ hai ở quán cơm Cụ Nam số nhà 13 phố Hàng Đồng (Boulevard Francis Garnier), trong đó có Phạm Đức Bân và một số giáo viên trường Tiểu học tham gia.
Thông qua Hội đọc sách báo cách mạng, Lê Hữu Lập đã tổ chức các cuộc nói chuyện, bàn bạc về thời cuộc. Những kiến thức được truyền thụ đơn giản nhưng sâu sắc, như “Cách mạng là phá cái cũ đổi ra cái mới; phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Khi nói về tôn chỉ, mục đích của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thì “trước làm cách mạng quốc gia để đánh đuổi đế quốc Pháp giành độc lập cho Tổ quốc, sau làm cách mạng thế giới, đánh đổ chủ nghĩa tư bản, thực hiện chủ nghĩa Cộng sản…”. Bài Quốc tế ca do Nguyễn Ái Quốc dịch ra theo thể lục bát cũng đã có nhiều người thuộc lòng.
Những giáo viên trường làng sinh hoạt Hội đọc sách báo cách mạng ở Thành phố trở thành cốt cán nhân rộng tổ chức, phát triển ra hai tổng Kim Ốc, Tuyên Hóa huyện Đông Sơn, rồi đến các huyện Hậu Lộc, Thiệu Hóa, Nông Cống, Thọ Xuân.
Đầu năm 1927, Tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thành phố được thành lập gồm bà Trần Thị Nam, thầy giáo Phạm Đức Bân, thầy giáo Cù Khắc Minh và một số thầy giáo khác dạy ở trường Tiểu học Đông Sơn. Trên cơ sở đó, thầy Phạm Đức Bân phát triển ở mỗi lớp Nhất một Tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tiểu tổ lớp nhất B có: Vũ Đình Thiệp, Nguyễn Văn Hợi, Nguyễn Văn Cát, Lê Trọng Tân, Lê Tử Bình, Trương Khâm, Hoàng Văn Chính; trường tiểu học Đông Sơn cũng có một tiểu tổ.
Việc làm đầu tiên của các tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là bỏ truyền đơn (được in thạch) đưa từ Quảng Châu về vào hộc bàn, để khi học sinh vào lớp thì nhận được. Nội dung là một bài tuyên truyền cách mạng theo điệu hát, nói lên cảnh lầm than nô lệ và động viên nhau đứng lên làm cách mạng, đánh đổ cường quyền áp bức giành lại độc lập tự do.
Tiếp theo, họ tổ chức vạch mặt tên Tây quay số chơi trò bạc bịp, để moi tiền nhân dân một cách bất chính. Cả ba Tiểu tổ học sinh Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở hai trường đã thống nhất hành động trị tên Tây quay số làm cho cả tên chủ lẫn người làm công đều phải bỏ chạy. Lính Cẩm đến can thiệp, đã bắt một thợ thủ công đi ngang qua đem về Sở Cẩm.
Sáng hôm sau, học sinh đi học nghe tin như vậy đã hàng ngũ chỉnh tề kéo đến Sở Cẩm phản đối việc bắt người vô cớ và đòi thả. Nhân dân hoan nghênh việc làm của học sinh. Ông Lương Tư Hiếu, một thầy giáo dạy chữ Hán nổi tiếng chống chính quyền trước đó đã bị đổi lên châu Ngọc Lặc, nghe tin học sinh đấu tranh, đã về Thành phố đứng chờ ở cửa lớp, đến giờ tan học ông bắt tay một lượt các học sinh lớp nhất A và tỏ lời khen ngợi: “Các trò khá lắm”.
Gần ngày giỗ đầu cụ Phan Chu Trinh, cả 3 lớp Nhất cử 3 người lên Tòa sứ xin phép và mời cùng dự với giáo giới và công chức, nhưng Công sứ không cho. Cả 3 tiểu tổ đã quy ước “đúng ngày giỗ 24-3-1927 đều mặc áo dài trắng đi học”. Chủ nhật ngày 27 - 3-1927, học sinh 3 lớp Nhất của hai trường kéo nhau lên Núi Mật dự giỗ đầu cụ Phan. Một tên lính lệ mặc giả thường dân đi theo dò xét, đã bị phát hiện và giữ lại một nơi để cảnh cáo, đến khi tan cuộc mới thả về.
Hai cuộc đấu tranh thắng lợi do các tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tiến hành đã gây nên sự tức tối cho nhà cầm quyền. Chúng quyết định đuổi 10 học sinh trường Tiểu học Thành phố và 1 học sinh trường Tiểu học Đông Sơn, không cho thi tốt nghiệp, không cho tiếp tục học ở trường khác, trong số đó có Nguyễn Đình Thực và Nguyễn Văn Hợi. Còn gần 200 học sinh lớp nhất dự thi tốt nghiệp, chúng chỉ cho đỗ 50 người. Hết năm học, chúng điều động thầy Bân vào Quảng Trị, chuyển đổi một số thầy giáo khác có tư tưởng cách mạng đi các trường xa thành phố. Buổi tiễn đưa thầy Bân tại sân ga Thanh Hóa thật xúc động. Một bó hoa tươi có lời thơ “Vẫn nước non này” viết trên băng đỏ tặng thầy là một lời thề sắt son cách mạng của học sinh Thành phố Thanh Hóa.
Hai cuộc đấu tranh đó như tiếng chuông báo hiệu cần phải có một tổ chức thống nhất, một sự chỉ đạo khôn khéo để một mặt vừa đạt hiệu quả cao, mặt khác vẫn bảo toàn lực lượng quần chúng.
Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát triển ngày càng rộng, nhu cầu thông tin nội bộ tăng lên. Một vấn đề đặt ra là làm sao vẫn giữ được bí mật, che mắt được chính quyền thực dân phong kiến. Lê Hữu Lập bàn với Mai Xuân Diễn thuê ngôi nhà số 26 Hàng Than, bố trí bên ngoài là cửa hàng bán nước mắm, bên trong là nơi liên lạc hội họp, đón tiếp các đồng chí từ các huyện lên, từ tỉnh ngoài đến,… xem như đó là sự giao lưu giữa các bạn hàng.
Cũng tại ngôi nhà này, tháng 4-1927 đã mở Hội nghị đại biểu của 11 tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thành phố và các phủ, huyện, quyết định thành lập Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Hội nghị cử Ban Chấp hành Tỉnh bộ lâm thời gồm 3 ủy viên, do Lê Hữu Lập làm Bí thư.
Để nâng cao trình độ giác ngộ cho hội viên, tổ chức hội đã tìm mọi cách để mở các lớp huấn luyện chính trị. Tháng 6-1927, Hoàng Khắc Trung được cử đi huấn luyện ở Quảng Châu trở về, anh đem về nước cuốn sách Đường Kách mệnh do Nguyễn Ái Quốc biên soạn từ các bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị và đăng ở báo Thanh niên. Đó là tài liệu chính để huấn luyện hội viên tại lớp học. Hai anh được huấn luyện ở Quảng châu về trở thành giảng viên. Mỗi lớp học không quá 10 người, dưới danh nghĩa học thêm về văn hóa, hay luận bàn công việc làm ăn, buôn bán. Có lớp mở trong nội thành, có lớp mở ở Hàm Rồng, ở chùa Mật Sơn. Với nội dung cô đọng nhưng sâu sắc, các bài giảng đã gợi mở cho người học con đường phải đi, công việc phải làm, phương pháp hành động và đặc biệt là tu dưỡng tư cách người cách mạng. Những lớp học đó góp phần đào tạo khá đông cốt cán cho phong trào và tổ chức ở các huyện.
Cũng trong thời gian ấy, Tổng bộ Thanh niên Quảng Châu đưa tin về Tưởng Giới Thạch đã phản bội chính sách “Thân Nga, liên Cộng” của Tôn Trung Sơn, chống lại Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một số cán bộ Việt Nam hoạt động cách mạng ở Quảng Châu bị bắt. Do đó, Tổng bộ chủ trương rải truyền đơn kêu gọi Hoa kiều ủng hộ cách mạng Việt Nam và cùng đấu tranh đòi Tưởng Giới Thạch phải thả hết những người Việt Nam bị bắt. Tháng 7-1927, truyền đơn đã được rải vào tất cả các nhà Hoa kiều ở thành phố và các thị trấn huyện có đông Hoa kiều.
Cuối năm 1927, Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ chủ trương lập một cơ quan công khai vừa làm kinh tài cho Hội, vừa làm nơi liên lạc và hoạt động của Hội. Lê Hữu Lập ra Hà Nội gặp nhà tư sản dân tộc Đào Thao Côn để xem xét hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã, một tổ chức thương nghiệp tích cực thúc đẩy việc chấn hưng hàng nội hóa. Khi về bàn bạc tỉnh bộ nhận thấy hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã có lợi, vì vừa thể hiện được tinh thần dân tộc, lại vừa có thể làm kinh tài cho Hội nên đồng ý tổ chức.
Phong trào công chức dùng vải nội hóa may âu phục được phát triển có tác dụng thúc đẩy hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã. Nhờ vậy việc phát triển hội viên và kêu gọi đóng góp cổ phần rất thuận lợi. Chỉ trong vài tháng đã có đến 300 cổ phần và lập tiểu chi điếm ở một số huyện. Người chủ trì Hưng Nghiệp hội xã ở Thanh Hóa là Mai Xuân Diễn. Bà Trần Thị Nam được giao nhiệm vụ thư ký giúp việc và đi giao thông. Trụ sở Hưng Nghiệp hội xã ở 18 phố Lớn (nay là đoạn phố Trần Phú từ Đại lộ Lê Lợi đến đường Nguyễn Trãi). Cơ quan Tỉnh bộ cũng chuyển từ Hàng Than sang phố Lớn (Grand’ Rue). Thông qua Hưng Nghiệp hội xã, việc tuyên truyền tôn chỉ mục đích và phạm vi hoạt động của hội có địa bàn rộng lớn hơn.
Trước đó, trong học sinh còn có phong trào nói tiếng Pháp xen lẫn tiếng Việt nhằm chống lại quy định cấm nói tiếng Việt trong trường của hai Hiệu trưởng trường tiểu học thành phố và Đông Sơn.
Tháng 4-1928, thi hành chỉ thị của Kỳ bộ thanh niên Trung Kỳ, Hội nghị đại biểu Thanh niên Thanh Hóa gồm 9 huyện và Thành phố được tổ chức tại chùa Quan Thánh – Núi Nhồi đã bầu Ban Chấp hành chính thức, do Lê Hữu Lập làm Bí thư.
Vào giữa năm 1929, chủ trương giải tán Thanh niên của Kỳ bộ Bắc kỳ được truyền đạt đến Thanh Hóa. Hội nghị Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Thanh Hóa do Hoàng Khắc Trung chủ trì (Lê Hữu Lập lúc đó đã được điều động sang công tác ở Thái Lan) thảo luận và thống nhất chủ trương giải tán Thanh niên để lập Đảng Cộng sản, rồi phân công nhau đi “vô sản hóa”. Công việc chưa thành thì tổ chức bị vỡ lở, một số đồng chí bị địch bắt giam như: Trịnh Huy Quang, Nguyễn Năng Độ, Cù Khắc Minh, Nguyễn Mậu Sung, Nguyễn Công Thu…
Ngày 14-7-1925, Hội Phục Việt được thành lập ở Thành phố Vinh. Tổng bộ Phục Việt cử người ra Thanh Hóa phát triển hội viên, xây dựng cơ sở Hội. Cử nhân Nguyễn Đan Quế, cử nhân Hoàng Văn Khải và một vài ông tú, ông cử khác được kết nạp vào Hội lớp đầu tiên.
Đầu năm 1927, Hội phục Việt Thanh Hóa phát triển hội viên mới vào lớp tân học và người có cơ sở buôn bán, có nghề nghiệp, trong số đó có Nguyễn Xuân Thúy, Nguyễn Văn Hồ (Thọ Xuân), Lê Liên Vũ, Nguyễn Văn Ninh, Lê Thị Ngọ (Lò Chum), Lê Tất Đắc thư ký nhà ga, Nguyễn Thị Nghiên nữ hộ sinh… và một số người khác lập thành Đại tổ ở Thị xã. Phục Việt cũng thành lập Học sinh Đoàn để hoạt động. Nguyễn Đình Thực là một trong những học sinh đầu tiên tham gia học sinh Đoàn Phục Việt.
Sự phân hóa trong Tổng bộ Tân Việt cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức Tân Việt ở Thanh Hóa. Với hình thức tổ chức từ Tiểu tổ lên Đại tổ. Buổi đầu Tỉnh bộ đặt ở Ngô Xá (Thiệu Hóa) sau dời về Lò Chum. Sau ngày kết nạp, Nguyễn Xuân Thúy và Nguyễn Văn Hồ vào Vinh dự lớp huấn luyện trong thời gian 6 tháng, lớp do Tổng bộ Phục Việt mở. Trở về Thanh Hóa, trong Hội nghị củng cố Đảng bộ tại Lò Chum vào giữa năm 1927, Nguyễn Xuân Thúy được bầu làm Bí thư Tỉnh bộ Tân Việt. Từ đây Tân Việt hoạt động theo Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, tạo ra một bước ngoặt mới căn bản về tổ chức.
Nhận rõ sự cần thiết phải tuyên truyền, huấn luyện hội viên chu đáo mới mong tạo chuyển biến trong nhận thức, mới có hành động đúng, Hội nghị Tỉnh bộ vào tháng 12-1928 đã phân công Nguyễn Xuân Thúy trực tiếp tổ chức các lớp huấn luyện, giao nhiệm vụ Bí thư cho Lê Liên Vũ, các lớp huấn luyện được mở liên tục vào buổi tối, luân phiên đổi địa điểm từ nhà ông đồ Nghếch (thân phụ Lê Liên Giao, Lê Liên Vũ) sang bà Khang (mẹ vợ các ông Lê Liên Vũ và Nguyễn Đình Thực - cháu ruột cử nhân Nguyễn Đan Quế), ông Nguyễn Văn Ninh (bố vợ Trần Quang Huy). Nội dung huấn luyện theo Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, hình thức là lớp học thêm về văn hóa, là buổi luận bàn về giao lưu buôn bán.
Cuối năm 1928, Lê Liên Vũ cùng đi với Phan Đăng Lưu sang Quảng Châu để bàn việc thống nhất Tân Việt vào Thanh niên, nhưng sự việc không thành. Thời gian đó Nguyễn Văn Hồ đảm nhiệm Bí thư.
Từ giữa năm 1929, trụ sở Tỉnh bộ Tân Việt chuyển lên phố Thợ Thêu. Tại đây Nguyễn Văn Ninh cùng với Nguyễn Văn Hồ mở hiệu sửa chữa xe đạp Dụ An làm nơi liên lạc với cơ sở cách mạng ở các huyện và liên tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh. Đầu tháng 8-1929, cửa hiệu Dụ An bị đóng cửa, Nguyễn Văn Hồ, Lê Văn Phước, Nguyễn Văn Ninh, Lê Liên Vũ, Nguyễn Sĩ Khánh đều là đảng viên Tân Việt bị địch bắt giam.
Một số cốt cán của hai tổ chức Thanh niên, Tân Việt bị bắt giam. Những người còn lại của hai tổ chức trên chưa bị lộ đã tổ chức một phong trào quyên góp quà bánh, thức ăn, quần áo để ủng hộ anh em tù chính trị bị giam ở Nhà lao Thanh Hóa. Đầu năm 1930, nhà cầm quyền xét thấy không có đủ chứng cứ kết tội nên chúng phải thả tù chính trị, song chúng lại đối phó bằng cách đuổi về quản thúc tại quê quán.
Tháng 2 - 1929, ông Hoàng Văn Tùng một thầy giáo và là yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng Thanh Hóa đi công tác Hà Nội đã bị thực dân Pháp bắt giam và tra tấn rất dã man, rồi được trả về gia đình ở Thanh Hóa. Ông mất vào tháng 5-1929. Lễ tang thầy giáo Hoàng Văn Tùng được giáo viên, học sinh, công chức yêu nước ở Thành phố, mà nòng cốt là hội viên Thanh niên - Tân Việt tổ chức chu đáo, đã gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân. Sau đó, nhận thấy mối nguy hại từ các hoạt động phối hợp giữa các tổ chức và phong trào yêu nước, nên khi Thanh niên - Tân Việt bị vỡ, thực dân Pháp đã thẳng thay đàn áp dã man phong trào.
II. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG TIẾN TỚI KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
1. Thời kỳ 1930 - 1935
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cương lĩnh cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã đề ra đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối ở nước ta đầu thế kỷ XX. Từ đây, nhân dân Thành phố cũng như toàn thể nhân dân các dân tộc Việt Nam chiến đấu anh dũng dưới ngọn cờ của Đảng. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và tha thiết của nhân dân ta.
Ngay sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên đất nước ta đã dấy lên cao trào cách mạng 1930-1931, trên cơ sở đó đã hình thành nhiều tổ chức cộng sản.
Tháng 3-1930, Phân cục Trung ương lâm thời Trung Kỳ được thành lập, và ngay sau đó lập Tỉnh bộ Vinh (bao gồm Vinh-Bến Thủy, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Thành phố Thanh Hóa) do Lê Mao, Ủy viên Thường trực Phân cục phụ trách.
Trên cơ sở những chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hàm Hạ (Đông Sơn) tháng 6-1930, Phúc Lộc (Thiệu Hóa) và Yên trường (Thọ Xuân) tháng 7-1930, và sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, ngày 29-7-1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Tỉnh Thanh Hoá được thành lập. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình phát triển của phong trào cách mạng Tỉnh Thanh Hóa. “Từ đây phong trào cách mạng tỉnh nhà có Đảng lãnh đạo trực tiếp sẽ vững bước vượt qua thử thách hiểm nghèo, cùng nhân dân cả nước tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Ngay sau khi ra đời, Đảng bộ đã tích cực xây dựng cơ sở trong quần chúng và phát triển đảng viên; tích cực chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ,… Đến tháng 10-1930, toàn Đảng bộ có 5 chi bộ với tổng số 57 đảng viên.
Phát hiện ra cơ sở hoạt động của Đảng bộ, chính quyền thực dân mở chiến dịch truy lùng khủng bố. Nhiều đồng chí bị bắt, trong số đó có các Tỉnh uỷ viên. Cuối năm 1930, Đảng bộ chỉ còn lại 25 đảng viên hoạt động bí mật.
Trước tình hình Đảng bộ Đảng Cộng sản Thanh Hoá bị tổn thất nghiêm trọng, sau một thời gian nỗ lực khôi phục tổ chức và phong trào, dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Trung Kỳ, ngày 10-1-1931, Hội nghị thành lập Tỉnh uỷ lâm thời đã được triệu tập tại Hồ Thượng (Tĩnh Gia). Hội nghị đã thảo luận và quán triệt tinh thần Án nghị quyết lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Xứ ủy Trung Kỳ về  công tác phát triển Đảng, các tổ chức quần chúng và phát động phong trào đấu tranh cách mạng,… Hội nghị đã cử ra Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ lâm thời gồm 5 ủy viên, do đồng chí Ngô Đức Mậu làm Bí thư.
Tháng 4-1931, Tỉnh uỷ lâm thời họp Hội nghị mở rộng quyết định phát động phong trào quần chúng công nhân, nông dân đấu tranh ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh, củng cố, kiện toàn các cơ sở Đảng và bộ máy lãnh đạo các cấp; tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm hưởng ứng Ngày Quốc tế lao động 1-5 tại Thành phố.
Ngày 1-5-1931, cờ đỏ búa liềm xuất hiện trên nóc nhà ga Thanh Hóa. Truyền đơn ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh xuất hiện ở nhiều nơi, ở nhà máy điện Hàm Rồng và nhiều địa phương khác trong tỉnh, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân và khiến nhà cầm quyền thực dân, phong kiến điên đầu.
Do những sơ hở trong hoạt động bí mật nên tháng 6-1931, nhiều cán bộ Tỉnh uỷ lâm thời lần lượt sa lưới địch. Nhiều người bị kết án tù, trong số đó có Ngô Đức Mậu, Lê Tất Đắc, Phạm Tiến Năng, Nguyễn Xuân Thuý, Lê Văn Thiệp… Những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ bị giam cầm trong lao vẫn giữ được liên hệ với bên ngoài để chỉ đạo phong trào cách mạng.
Tại Thành phố, tháng 9-1931 Nguyễn Văn Huời, đảng viên cũ của Tân Việt, vốn là công nhân xưởng diêm Hàm Rồng vào làm ở Nhà máy xe lửa Trường Thi – Vinh rồi tham gia Đảng Cộng sản ở đó, đã trở về làm việc tại Nhà máy diêm Hàm Rồng, đã dựa vào những người yêu nước mà nòng cốt là Tiểu tổ Tân Việt cũ để tuyên truyền vận động giác ngộ công nhân trong nhà máy thành lập Công hội Đỏ, rồi tổ chức một cuộc rải truyền đơn để kỷ niệm một năm Xô viết Nghệ Tĩnh (12-9-1930 – 12-9-1931) kêu gọi công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, đánh đập. Trên mỗi tờ truyền đơn đều có in hình búa liềm. Cuộc rải truyền đơn này đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân trong tỉnh.
Liền theo đó, Công hội Đỏ tổ chức cuộc đình công lớn vào tháng 11-1931 từ bộ phận nữ công nhân chấm thuốc, vào bao, họ là những người có tiền công rẻ mạt nhất, cuộc đấu tranh nhanh chóng lan ra toàn Nhà máy, nêu cao các khẩu hiệu phản đối đánh đập, cúp phạt, chủ nhà máy phải nhận tăng tiền công cho công nhân nữ và trẻ em từ 2 xu lên 3 xu một thẻ khoán.
Tháng 9-1931, nhà cầm quyền thực dân bắt đầu mở lớp Đệ nhất niên trung học tại Thanh Hoá, không phải chỉ vì nhu cầu học lên của học sinh mà nhằm tách khỏi sự liên kết đấu tranh của học sinh Quốc học Vinh với Thành phố Thanh Hoá.
Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp khốc liệt. Nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.
Năm 1932, Trung ương Đảng vạch Chương trình hành động nhằm tổ chức các hội biến tướng hoạt động công khai hợp pháp để che mắt địch, làm lá chắn cho các hoạt động bí mật của Đảng.
Tháng 2-1932, Hội nghị đại biểu của 7 cơ sở cách mạng trong tỉnh họp tại Yên Lộ (Thiệu Hoá) đề ra chủ trương dựa trên cơ sở Nông hội Đỏ để thành lập Hội tương trợ sản xuất và tổ chức đời sống, qua đó Đảng có cơ sở để tuyên truyền giác ngộ họ. Tháng 8-1932, Hội nghị đại biểu các cơ sở Đảng ở Ngọc Vực (Yên Định) đã nhấn mạnh trong khi chú ý xây dựng cơ sở cách mạng ở nông thôn thì không được xem nhẹ việc xây dựng cơ sở cách mạng ở thành thị, đồn điền, nhà máy. Tuy nhiên, đến cuối năm 1933 phong trào cách mạng ở thành thị, xí nghiệp, đồn điền vẫn chậm phát triển và không đồng đều.
Đầu năm 1934, đồng chí Nguyễn Tạo thoát khỏi nhà tù Hoả Lò – Hà Nội về Thanh Hoá bắt liên lạc với các đảng viên cũ, xây dựng được một số cơ sở cách mạng mới ở Hải Mao (Thọ Xuân), Thành phố và Hàm Rồng. Đồng chí Tạo giao cho bà Trần Thị Nam làm nhiệm vụ giao thông nối liền Thanh Hoá - Hà Nội. Các chuyến đi của bà Nam đều bắt đầu từ ga Hàm Rồng do trưởng ga Phạm Văn Huệ, một cơ sở cách mạng xuất vé cho đi.
Ngày 12-3-1934, đồng chí Nguyễn Tạo và đồng chí Lê Chủ trực tiếp chỉ đạo lớp học cho cốt cán của các cơ sở Đảng. Lớp mở tại Yên Lộ có nội dung làm cho học viên hiểu rõ tình hình thế giới và trong nước trong giai đoạn trước mắt, chủ trương công tác phát triển Đảng và các tổ chức quần chúng, phương pháp vận động công nhân, nông dân và dân nghèo thành thị. Sau lớp huấn luyện đã chọn lựa cốt cán lập nên Tỉnh uỷ lâm thời gồm 7 đồng chí: Lê Chủ, Bùi Đạt, Trịnh Khắc Sản, Trịnh Hữu Thường, Hoàng Văn Mạch, Lê Đình Ân và đồng chí Dễnh (tức Mạc), do đồng chí Lê Chủ làm Bí thư.
Cuối tháng 4 - 1934, tổ chức Đảng Thanh Hoá lại bị vỡ, các đồng chí Nguyễn Tạo, Phạm Văn Huệ, Lê Chủ, Bùi Đạt, Đinh Chương Dương lần lượt bị sa lưới địch.
Thực hiện chương trình hành động của Trung ương Đảng, một số đảng viên ở các thành phố lớn đã dùng hình thức tranh luận công khai trên báo chí hợp pháp để chống lại những quan điểm tư tưởng tiêu cực, lạc hậu, xa lìa thời cuộc, cam tâm làm nô lệ, làm bồi bút, tay sai cho thực dân Pháp.
Những bài báo tiến bộ ấy đã dẫn đường cho học sinh trung học Thanh Hoá. Năm học 1933- 1934, học sinh lớp Đệ tam do Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh) chủ trì đã ra tờ báo tay Con Sáo lưu hành nội bộ, phát hành được nhiều số. Nguyễn Thường Khanh cùng với Trần Văn Cẩn cộng tác vẽ tranh châm biếm các thói hư, tật xấu.
Năm học 1934- 1935, Nguyễn Tuân, phóng viên báo Trung Bắc Tân Văn tại Thanh Hoá đã tổ chức lễ truy điệu nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là người học hành đỗ đạt nhưng không ra làm quan mà đi làm báo. Sinh thời, ông dịch nhiều sách văn học Pháp ra tiếng Việt. Gần một trăm học sinh trung học đã dự lễ truy điệu ông ở chùa Hội Đồng (Đào Viên).
Năm học 1935-1936, Bùi Kính Thăng học sinh lớp Đệ Nhị trung học dùng máy chữ chép lại bài báo đả kích Đoàn xiếc nước Anh Hác-mơ-stông (Harmstons) diễn trò miệt thị dân tộc Việt Nam đăng trên tờ báo Loa, một tờ báo trào phúng ở Hà Nội. Bản chép bằng máy chữ được phong trào chơi thư luân lưu thời bấy giờ sao chép thành nhiều bản phổ biến rộng rãi trong học sinh và dân chúng. Nguyễn Đắc Giới (Thôi Hữu), Võ Cương và nhiều học sinh khác tích cực hưởng ứng việc làm này.
Hồi đó với bút danh Tuấn Thừa Sắc, Nguyễn Tuân đã viết bài cho báo Trung Bắc Tân văn, số ra Chủ nhật ngày 19-1-1936, tường thuật lại việc gánh xiếc Hác-mơ-stông ngày đầu tiên đến Thanh Hoá (14-1-1936) đã bị học sinh phản đối bằng truyền đơn được rải và dán khắp phố. Tối đến học sinh lại kéo đến cửa rạp ngăn không cho quần chúng vào xem. Sở Mật thám được tin báo đến trường lục soát mới biết Bùi Kính Thăng là người chủ động trong việc ấy. Sáng ngày 15-1-1936, Hiệu trưởng trường Trung học ký lệnh đuổi học 1 tháng đối với Bùi Kính Thăng. Tin đó loang ra như dầu đổ vào lửa, nhân dân Thành phố tẩy chay xem xiếc. Đoàn xiếc phải gấp lên đường vào Vinh. Nhưng tại Thành phố này phong trào phản đối còn cao hơn, kết quả là chủ rạp đã phải treo cổ tự tử ở khách sạn nhà ga Vinh vào tối 29-1-1936 vì những khó khăn về tài chính mà y đã gây ra trong việc diễn trò miệt thị dân tộc Việt Nam.
Sau này trở lại trường học, Bùi Kính Thăng cùng với Nguyễn Đắc Giới, Lê Trọng Thoàn,… lập nên Hội đọc sách báo cách mạng do Nguyễn Xuân Phương (y tá Bệnh viện tỉnh) cùng với Trương Khâm, Nguyễn Đình Thực hướng dẫn tranh luận đề tài duy vật chống duy tâm. Hội còn lưu hành nhiều tài liệu bí mật, như Kinh tế chính trị học tiểu luậnCách mạng tháng Mười Nga; Đệ nhất - Đệ nhị - Đệ tam quốc tế; Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Từ 10 hội viên buổi ban đầu đã phát triển lên 20 hội viên.
2. Thời kỳ 1936- 1939
Trong cao trào cách mạng dân tộc dân chủ 1936-1939, trước những điều kiện cách mạng trong nước có nhiều thuận lợi, thực hiện chủ trương của Đảng về chuyển hướng đấu tranh, chuyển các hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, nửa hợp pháp, đấu tranh từ thấp đến cao chống chế độ phản động thuộc địa, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình, tổ chức cộng sản ở Thành phố đã có nhiều hoạt động phát triển đảng viên, mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng.
Đại hội VII Quốc tế cộng sản (7-1935) vạch ra nhiệm vụ trước mắt là chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hoà bình.
Tháng 5-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt giành được thắng lợi trong tổng tuyển cử đưa đến việc thành lập Chính phủ Bình dân Pháp. Chính phủ này đã quyết định thả tù chính trị, tiến hành một số cải cách xã hội cho lao động ở các thuộc địa và thành lập một Uỷ ban điều tra tình hình Đông Dương.
Tháng 7 -1936, Trung ương Đảng đặt nhiệm vụ trước mắt của Cách mạng Việt Nam là đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hoà bình, chủ trương lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, triệt để lợi dụng những khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để lãnh đạo quần chúng, đồng thời duy trì và phát triển các tổ chức bí mật của Đảng phòng khi bất trắc.
Trung ương Đảng phát động phong trào đấu tranh công khai, mở đầu bằng hình thức vận động lập Uỷ ban trù bị Đông Dương Đại hội nhằm thu thập nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tiến tới triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương để thông qua Bản Dân nguyện gửi Phái bộ điều tra Pháp sắp sang nước ta.
Tại Thành phố Thanh Hóa một số đảng viên cũ của Tân Việt có cảm tình với Đảng Cộng sản như Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Đình Thực, Lê Liên Giao, Lê Liên Vũ, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Văn Thiệp… đã tập hợp được 30 người cùng nhau lập Ủy ban hành động, thu thập hàng trăm chữ ký vào bản Dân nguyện. Tháng 2-1937, Gô-đa (Godart) phái viên của Chính phủ Bình dân Pháp sang Đông Dương ghé qua Tòa sứ Thanh Hóa một đêm. Ủy ban hành động khu Lò Chum đã cử một Đoàn đại biểu gồm công chức, trí thức, chính trị phạm, nhà báo… đại diện nhân dân trực tiếp gặp Gô-da đưa bản Dân nguyện, với yêu sách: “Dân tộc Việt Nam phải được tự do dân chủ, miễn sưu, giảm thuế, xóa bỏ những thứ thuế vô lý, tăng lương, giảm giờ làm, thả tù chính trị…” Gô-đa buộc phải tiếp Đoàn và hứa nghiên cứu giải quyết các yêu sách mà Đoàn nêu ra.
Tiến lên một bước, Ủy ban này đã lập nhóm Mặt trận Dân chủ và cử người vào Huế liên lạc với Phan Đăng Lưu để nhận kế hoạch cụ thể.
Trong thời gian này, một số cán bộ, đảng viên vừa ra khỏi nhà tù đế quốc và nhiều cán bộ cốt cán của Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng bắt mối với các cơ sở, xây dựng và củng cố bộ máy lãnh đạo, xây dựng các tổ chức quần chúng, phát động phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, theo tinh thần hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936.
Hội nghị Yên Lộ (Thiệu Hóa) tháng 12-1936 của Tỉnh ủy chủ trương: Đẩy mạnh đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp lên một bước mới, mạnh mẽ và rộng khắp. Tổ chức hoạt động công khai và nửa công khai ở Thành phố nhằm đi sâu vận động công nhân trong các nhà máy và dân nghèo thành thị; Xúc tiến liên lạc với Trung ương Đảng .
Hội nghị quyết định dời cơ quan Tỉnh ủy từ nông thôn về Thành phố, đặt địa điểm liên lạc công khai, nửa công khai, liên lạc đặc biệt. Một lần nữa Thành phố trở thành đầu mối liên lạc của phong trào cách mạng trên địa bàn tỉnh.
Được phân công phụ trách phong trào công khai ở Thành phố, Bùi Đạt mới ở tù ra gặp Công sứ La-gờ-re-giơ (Lagrèze) yêu cầu cho làm việc tại Thành phố, một mặt để lo cuộc sống, mặt khác cũng để “các ông quản lý được sát”. Bùi Đạt thuê một căn nhà nhỏ số 10 phố Huế, bên ngoài mở hiệu giặt là, bên trong là nơi liên lạc. Nhưng tháng 7-1937, hiệu giặt đã phải đóng cửa, nơi liên lạc công khai phải chuyển đến một địa điểm khác.
Mùa Thu năm 1937, chính quyền thuộc địa chủ trương thành lập “Nghị viện dân biểu Trung Kỳ”, một cái bánh vẽ dân chủ giả hiệu. Bọn giàu có quyền thế coi đây là thời vận để kiếm chác chức “quan nghị”. Hưởng ứng hay không ? Thông cáo ngày 20-3-1937 của Trung ương Đảng đã nói “Vô luận là cuộc tuyển cử gì, Đảng ta có thể tham gia được là nên tham gia… Đối với vấn đề chọn người ra tranh cử, chúng ta không chỉ chọn rành là đồng chí mà cần đem những người cảm tình ra ứng cử”
Từ tinh thần ấy, Tỉnh ủy Thanh Hóa chủ trương liên hiệp hành động với những thân sĩ tiến bộ trong “phái lão thành” và những phần tử cấp tiến trong “phái thanh niên” để tiến hành cuộc vận động tranh cử.
Trung tuần tháng 7-1937, một cuộc họp có tính chất mặt trận đã diễn ra tại nhà ông Nguyễn Văn Ninh, số 20 phố Lò Chum gồm những đại diện thân sĩ tiến bộ ở các huyện như Nguyễn Đan Quế (Vĩnh Lộc), Nguyễn Duy Vận (Tĩnh Gia), Hoàng Văn Khải (Thiệu Hóa),… lớp thanh niên cấp tiến như Lê Liên Giao, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Đình Thực, Nguyễn Văn Hà (Thành phố) và đại diện của Đảng bộ: Bùi Đạt, Nguyễn Văn Hồ, Nguyễn Hữu Vơn,… Trong bầu không khí hiểu biết lẫn nhau, những người dự họp đã thống nhất thành lập Ban vận động và nhất trí một chương trình hành động nhằm đòi tự do dân chủ, toàn xá chính trị phạm, giảm sưu thuế,… nhất trí lựa chọn các ứng cử viên của Mặt trận Dân chủ tại 6 khu vực bầu cử trong tỉnh, phân công tỏa về các phủ huyện tuyên truyền vận động cho ứng cử viên theo danh sách dự kiến. Kết quả lực lượng cách mạng đã giành được thắng lợi ở 5 trong tổng số 6 khu vực bầu cử toàn tỉnh.
Riêng khu vực Thành phố, Quảng Xương và tổng Thủy cơ, Mặt trận Dân chủ đặt trụ sở tại nhà ông Tú Tá (phố Huế) để người ứng cử của Mặt trận là Hoàng Văn Khải tiếp xúc với cử tri. Còn Ban Vận động là Bùi Đạt, Nguyễn Văn Ninh, Lê Liên Vũ, Nguyễn Đình Thực vẫn họp tại nhà ông Ninh nhiều lần để định kế hoạch vận động sát hợp. Kết quả là Hoàng Văn Khải đã trúng cử với số phiếu 525/791.
Tháng 8-1937, tại nhà ông Nguyễn Văn Khang (Lò Chum), Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Huy Quang chủ trì Hội nghị giữa Ban Vận động bầu cử của Mặt trận Dân chủ với 5 ứng cử viên do Mặt trận giới thiệu đã trúng cử để lưu ý họ ủng hộ chương trình hoạt động của Mặt trận và đáp ứng những yêu cầu thỉnh nguyện của nhân dân tại các kỳ họp Viện Dân biểu, 5 vị trúng cử lại gặp Mặt trận Dân chủ để tập hợp dân nguyện.
Tháng 12-1937, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa chính thức bắt liên lạc với Trung ương và chính thức được công nhận là một Đảng bộ trực thuộc Xứ ủy Trung Kỳ. Theo sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy quyết định thành lập Ủy ban Vận động cách mạng ở Thành phố và 10 huyện.
Bùi Đạt và Nguyễn Hữu Vơn phụ trách Ủy ban Thành phố đã định chương trình hành động gồm:
- Vận động xây dựng các Hội Ái hữu trong công nhân, nhân dân lao động thành thị; tổ chức các đoàn thể quần chúng: Đoàn Thanh niên Dân chủ, Hội Phụ nữ dân chủ, Hội Đọc sách báo công khai, Hội Học sinh, Hội Cứu tế đỏ…
- Tiến hành các cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ, đòi tự do lập hội, lập nghiệp đoàn, tự do báo chí, mở trường học, đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, sa thải, cúp phạt, chống thuế, đòi ân xá tù chính trị.
- Vận động nhân dân ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật, tham gia phong trào Truyền bá Quốc ngữ.
Ủy ban Vận động cách mạng Thành phố đã nâng tầm hoạt động lên một chất lượng mới so với thời kỳ Ủy ban hành động đưa thỉnh nguyện đến Gô-đa.
Dựa vào những người tiến bộ ở Lò Chum, Ủy ban hành động cách mạng Thành phố đặt vấn đề xây dựng Điều lệ cải lương hương tục ở làng Đức Thọ Vạn có 4 giáp: Đông, Nam, Tân Lợi, Tân Mỹ. Điều lệ cải lương hương tục làng Đức Thọ đã mang tính chất dân chủ, tương tế ái hữu, buộc Tri phủ Đông Sơn phải áp triện cho thi hành. Trong thực tế chỉ có 2 giáp Tân Lợi, Tân Mỹ thực hiện có kết quả vì cả chủ lò, thợ bạn nơi đây còn mang đậm chất bình dân.
Đầu năm học 1936- 1937, các hội viên Hội Đọc sách báo cách mạng trường Trung học Thanh Hóa tham gia cổ động cho tờ báo Lao động (Le Travail) là tờ báo đầu tiên của Xứ ủy Bắc Kỳ xuất bản bằng tiếng Pháp. Chủ nhật 15-4-1937, Hội tổ chức mít tinh ủng hộ phong trào Mặt trận Bình dân Tây Ban Nha ở chân núi Nhồi. Ngoài một trăm học sinh và thanh niên Thành phố, còn có một số phu xe kéo cũng tới dự.
Cuối năm học 1936- 1937, Nguyễn Trọng Chơn, Nguyễn Văn Nghiêm, Phan Cự Nguyên tổ chức Nhóm Thanh niên Dân chủTrường Trung học, số lượng trên ba chục người. Bùi Đạt đã chỉ đạo những người lãnh đạo Nhóm Thanh niên Dân chủ vận động lấy chữ ký của học sinh đòi giảm học phí do Hiệu trưởng theo lệnh Pháp nâng mức đóng góp từ năm học 1935- 1936. Cuộc vận động được bắt đầu từ hè 1938 đến tháng 11-1938 đã thu được khoảng bốn trăm chữ ký của học sinh ba khối lớp, rồi cử đại diện nộp cho Hiệu trưởng. Trước sự phản kháng quyết liệt của học sinh, Hiệu trưởng Thái Nguyên Đào buộc phải hạ học phí từ 9 hào/1 học sinh /1 tháng xuống 5 hào/học sinh/ 1 tháng, đồng thời trả lại tiền mua sách chung.
Từ Hội Đọc sách báo cách mạng và Nhóm Thanh niên Dân chủ trường Trung học, tháng 3-1938, tại Thành phố, đã thành lập Đoàn thanh niên tân tiến tỉnh, do đồng chí Trịnh Huy Quang Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo. Lúc đầu Đoàn mới có 15 người tham gia, Hội nghị thống nhất mỗi đoàn viên góp 2 hào (tiền Đông Dương) để lập tủ sách mác xít và sách báo tiến bộ khác. Nguyên tắc hoạt động của đoàn là: “Một cây ba nhánh, một nhánh ba hoa, một hoa ba cánh”, điều đó có nghĩa là một đoàn viên tuyên truyền kết nạp 3 người khác, và ba người là một nhóm giữ liên hệ với nhau, người trưởng của nhóm mới giữ liên hệ với người kết nạp mình, giữa nhóm này và nhóm khác không có quan hệ ngang, nhằm giữ bí mật của tổ chức. Đoàn đã vận động các ông Hội đồng tỉnh lập Thư viện bình dân ở phố Cầu Sâng. Tháng 6-1938, Đoàn Thanh niên tân tiến đổi tên thành Đoàn Thanh niên dân chủ.
Tháng 5-1938, Trịnh Huy Quang giao nhiệm vụ cho Nguyễn Bá Trình đưa tài liệu của Thanh Hóa ra Hà Nội và dự hội nghị thành lập Đoàn thanh niên dân chủ. Lúc về Nguyễn Bá Trình mang theo bài hát Thanh niên xích vệ (la jeune garde) nội dung lời ca tiếng Việt có đoạn: “Chúng ta là thanh niên xích vệ, chúng ta là vệ đội của ngày mai. Vì trưởng sinh trong đau đớn này, một là toàn thắng, hai là hy sinh…”.
Một thời gian sau, Trần Đình Tri phái viên Thanh niên dân chủ Trung ương vào gặp Trịnh Huy Quang, Trịnh Huy Quang phân công đảng viên Nguyễn Hữu Vơn, phóng viên báo Nhành lúa, phụ trách Tỉnh đoàn Thanh niên dân chủ mở Đại hội tại cơ sở bán công khai của Tỉnh ủy ở Cửa hàng rượu dâu ngay Phố Lớn. Sau Đại hội phong trào thanh niên phát triển về các huyện, ở Thành phố đã phát triển rộng ở: Sở Địa chính, Bệnh viện, Phố Lớn, Lò Chum…
Cũng trong thời gian này, chị Lê Thị Định (vợ đồng chí Trịnh Huy Quang) xây dựng cơ sở Phụ nữ dân chủ ở Lò Chum, gồm các hội viên: Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Thiệp, Nguyễn Thị Trâm, chị Phú, chị Hiền… Hội còn phát triển cơ sở xuống phố Tịch Điền.
Các cơ sở Hội Phụ nữ dân chủ cùng với Đoàn Thanh niên dân chủ đều là những cơ sở hăng hái truyền bá sách báo cách mạng, tham gia tích cực trong các hội Ái hữu tương tế, tham gia phong trào Truyền bá quốc ngữ… Đặc biệt họ đã tích cực tham gia lấy chữ ký vào thỉnh nguyện chống “Dự án thuế mới” để phục vụ ngân sách chiến tranh, hăng hái tham gia quyên góp thuốc men, quà bánh, quần áo và ủng hộ tinh thần cho tù chính trị bị giam giữ ở nhà lao Thanh Hóa, đấu tranh chống bắt lính thợ không chuyên nghiệp, hồi đó thường gọi là lính O.N.S (Ouvriers non Spécialisés).
Nhằm tiếp tục nâng cao ý thức cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, tháng 5-1938, tại Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh ủy quyết định mở “Thanh Hoa thư quán”, đại lý phát hành công khai sách báo của Đảng do đồng chí Bùi Đạt làm chủ nhiệm, các đồng chí Nguyễn Hữu Vơn thường trực và Trịnh Hữu Thường giao dịch bán sách báo. Học sinh trung học ở Thành phố lập các nhóm cộng tác viên đi bán sách báo. “Thanh Hoa Thư quán” dần dần trở thành trung tâm tuyên truyền, cung cấp sách báo tiến bộ cho các cơ sở cách mạng trong Thành phố và cả tỉnh.
Lúc đầu do ít vốn, nhà thuê chật hẹp, số lượng sách báo mua chưa nhiều nên không đáp ứng được đòi hỏi của người đọc. Tỉnh ủy phải vận động đóng cổ phần tùy theo khả năng, đóng nhiều hay ít cũng được. Chỉ mấy ngày sau số vốn đã tăng thêm 200 đồng nên mua được sách báo nhiều hơn, thuê được nhà hai tầng ở 105 phố Lớn. Bạn đọc không chỉ ở Thành phố mà còn phát triển rộng ở nhiều huyện, không chỉ là những độc giả riêng lẻ mà còn được tổ chức thành các nhóm đọc sách báo mác xít: nhóm trường Phùng Quang Lan, nhóm trường Trung học, nhóm phố Nhà Dòng, nhóm khu Lò Chum, nhóm phố Tịch Điền, nhóm phố Nhà thương… Những sách được bạn đọc ưa thích và mua nhiều nhất là: Vấn đề dân cày, Chủ nghĩa cộng sản sơ giản, Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Giai cấp và giai cấp đấu tranh, Lịch sử đệ tam quốc tế, Lịch sử lao động quốc tế, Giới thiệu đất nước Xô viết (Voici URSS), Muốn trở thành chiến sĩ xã hội, tiểu thuyết Người Mẹ của Mácxim Goócki…
Thanh Hoa thư quán còn làm đại lý cho các tờ báo Tin Tức, Thời thế, Thời mới, Đời nay, Tiếng nói của chúng ta (Notre voix) của Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ và một số sách báo khác của Trung Kỳ, Nam Kỳ.
Sách báo cách mạng đã góp phần cổ vũ, thúc đẩy phong trào quần chúng ở Thành phố Thanh Hóa và ở các huyện lên cao.
Giữa năm 1938, đồng chí Trịnh Huy Quang, Bí thư Tỉnh ủy đã xây dựng và phát triển phong trào tại Nhà máy Diêm Hàm Rồng, thông qua tập hợp một số thanh niên vào “Hội bóng đá”. Đầu năm 1939, từ Hội bóng đá, Hội tương tế ái hữu được thành lập, thu hút đông đảo công nhân tham gia.
Từ năm 1939, tận dụng thời cơ thuận lợi, Đảng đã dựa vào một số nhân sỹ yêu nước, có thế lực, đứng ra tổ chức Hội Truyền bá quốc ngữ.
Đồng chí Lê Hữu Kiều (Nam Mộc) được Xứ ủy Trung Kỳ chỉ định tham gia Ban Chấp hành hội Truyền bá quốc ngữ, phụ trách tuyên truyền, và được phân công về Thanh Hóa xây dựng Hội.
Giữa năm 1939, các đồng chí Lê Hữu Kiều, Lương Duy Ủy, Lê Liên Vũ, Bùi Kính Thăng… góp tiền, góp sức lập nên trường tư thục Lam Sơn ở phố Bến Ngự, khóa học đầu tiên 1939 - 1940 đã có khoảng 200 học sinh. Học phí thu được ngoài phần trả lương cho giáo viên, chi phí cho giảng dạy, phần còn lại cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh là con chính trị phạm đang theo học ở trường.
Ổn định được nơi ở, việc làm, Lê Hữu Kiều tập hợp một số thanh niên giáo viên nhiệt tình, yêu nước làm trung kiên xây dựng chi hội truyền bá quốc ngữ Thanh Hóa, mời cụ Nguyễn Văn Nguyên (Hường Nguyên) Ủy viên Hội đồng Thành phố làm Chi hội trưởng, chị Nguyễn Thị Nghiên, các anh Lê Huy Hoạt, Trương Khâm, Bùi Kính Thăng, Đỗ Trọng Thuận, Lê Doãn Bổng, Hồ Sỹ Phấn… phụ trách tổ chức, tuyên truyền, tài chính,… hoặc vận động người biết chữ làm giáo viên, người chưa biết chữ đi học.
Lớp học phần lớn đặt ở đền chùa, trường học, cá biệt ở nhà dân. Sau 3 tháng học, học viên thi mãn khóa. Ai nấy đều phấn khởi thấy mình từ chỗ chưa biết chữ đã đọc thông, viết thạo, làm được 4 phép tính.
Phong trào Truyền bá quốc ngữ từ Thành phố lan tỏa về các vùng nông thôn phụ cận và được duy trì liên tục, mặc dù thực dân Pháp gây khó khăn, cản trở. Cụ Hường Nguyên xin nghỉ Chi hội trưởng, Lê Hữu Kiều bị bắt vào cuối năm 1940, tổ chức Chi hội không còn, nhưng các giáo viên nhiệt huyết vẫn tiếp tục duy trì việc dạy chữ cho đồng bào.
Do ý thức được vấn đề tổ chức và tập hợp lực lượng công nhân và những người lao động ở Thành phố Thanh Hóa cần phải xúc tiến ngay, nên năm 1938, đồng chí Trịnh Huy Quang - Bí thư Tỉnh ủy đồng ý cho thành lập chi bộ ở nhà máy rượu Nam Đồng Ích, do đồng chí Phạm Đức Nhuận làm Bí thư, để vận động lập nghiệp đoàn ái hữu tương tế hội. Tỉnh ủy phân công đồng chí Lê Chủ gặp anh Trịnh Công Song (bị lộ ở khu mỏ Quảng Ninh, vào Thanh Hóa làm cai xe cho một trong bảy chủ hiệu xe tay kéo), bàn việc tổ chức cho phu kéo xe với thợ sửa chữa xe đoàn kết đấu tranh nhưng không rơi vào cảnh thất nghiệp, mất việc làm. Giữa năm 1939 đồng chí Lê Chủ lại được phái về nhà máy Diêm, xây dựng Hội tương tế ái hữu công nhân.
Việc tổ chức cho công nhân nhà máy rượu Nam Đồng Ích, những người lao động làm thuê cho các chủ hiệu xe tay kéo và công nhân nhà máy Diêm đoàn kết đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải vô lí… đã giành được thắng lợi bước đầu, là một cuộc tập hợp lực lượng để tập dượt; đồng thời nâng cao ý thức giai cấp cách mạng qua thực tế đấu tranh.
Trong thời kỳ hoạt động công khai này, Đảng cũng rất chú ý giáo dục ý thức quốc tế vô sản, vận động quần chúng ủng hộ Mặt trận bình dân Tây Ban Nha chống phát xít, quyên tiền ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật. Tại Hoa thương Hội quản (chùa Hội Quản) diễn ra cuộc mít tinh có 600 người dự. Đồng chí Bùi Đạt thay mặt nhân dân trong tỉnh đọc diễn văn kêu gọi kháng chiến chống Nhật và trao cho Bang trưởng Hoa kiều 100 lá thư và số tiền quyên góp là 180 đồng Đông Dương để chuyển về nước. Mít tinh vừa kết thúc thì lính cẩm ùa vào bắt Bùi Đạt đem về trại giam nhằm uy hiếp tinh thần cả người Việt lẫn người Hoa.
Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Cách mạng tư sản dân quyền Pháp (14-7-1789 - 14-7-1939), đại diện Đảng bộ phối hợp với chi nhánh Đảng Xã hội Pháp tại Thanh Hóa tổ chức cuộc mít tinh tại Rạp hát Cửa Hậu vào tối 13-7-1939. Lễ khai mạc có hát Quốc tế ca, các khẩu hiệu: “Tự do, cơm áo, hòa bình; chống chiến tranh phát xít” là chủ đề của cuộc mít tinh. Đông đảo thanh niên giác ngộ cách mạng được chọn dự mít tinh đã nồng nhiệt cổ vũ Huỳnh Ngọc Huệ, đảng viên cộng sản, giáo viên dạy nghề, thay mặt công nhân phát biểu ý kiến đòi tự do dân chủ, đòi thả tù chính trị phạm, đòi giảm sưu thuế, cải thiện đời sống, chống chiến tranh phát xít.
3. Thời kỳ 1939 – 1945
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Hai ngày sau Pháp, Anh tuyên chiến với Đức. Đông Dương thuộc địa của Pháp bị lôi cuốn ngay vào vòng khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quy mô toàn cầu.
Đối với phong trào cách mạng ở Thành phố Thanh Hóa cũng như trên phạm vi cả nước, phương thức đấu tranh công khai hợp pháp đòi quyền dân sinh dân chủ không còn điều kiện khách quan để thực hiện, cần phải có sự chuyển hướng chiến lược đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn mới. Ngày 29-9-1939, Trung ương gửi cho toàn Đảng một bản thông cáo quan trọng, trong đó nhận định: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”.
Ngày 6-11-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ VI tại Hóc Môn, Bà Điểm (Gia Định) ra Nghị quyết về tình hình thế giới, tình hình Đông Dương và về chính sách của Đảng; quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên trên hết; đánh đổ đế quốc phát xít Pháp-Nhật là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu.
Hội nghị đặt mục tiêu đấu tranh: “Giải phóng dân tộc… lấy quyền lợi dân tộc là tối cao tất cả mọi vấn đề của cách mạng kể cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm mục đích ấy mà giải quyết” và quyết định thành lập Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Nghị quyết Hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng, định hướng hoạt động chỉ đạo của các Đảng bộ trong điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, ở Đông Dương, thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy cai trị, tăng cường đàn áp phong trào yêu nước và cách mạng. Ở Thanh Hóa, hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, nhiều cán bộ, đảng viên bị địch khủng bố, bắt bớ, giam cầm. Cuối năm 1939 đầu năm 1940, “Bộ máy lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên thực tế không còn tồn tại, nhiều chi bộ Đảng bộ tan vỡ”.
Tại Thành phố, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Phạm Đức Nhuận, Lưu Văn Bân đã lập ra Ban Vận động thành lập Mặt trận phản đế gồm các đồng chí: Đỗ Đông Uyên, Nguyễn Trọng Chơn, Lê Hữu Kiều, Bùi Kính Thăng, Đỗ Huy Trai,… Ban vận động phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939, giới thiệu Điều lệ Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, Điều lệ Đoàn thanh niên phản đế cứu quốcHội Phụ nữ phản đế cứu quốc,…
Cơ sở Thanh niên phản đế Trường tư thục Lam Sơn do Phạm Nguyên Phẩm, Đỗ Trọng Thuận (Việt Khoa) phụ trách, cơ sở Đoàn ở Trường trung học do Nguyễn Nguyên phụ trách. Sau khi thành lập, cả hai cơ sở Đoàn tuyên truyền vận động thanh niên, học sinh và nhân dân thành lập Mặt trận phản đế cứu quốc.
Tháng 5-1940, Mặt trận đã tổ chức một cuộc rải truyền đơn theo hình thức bỏ vào phong bì có ghi địa chỉ bí mật cài vào cửa sổ, cửa ra vào từng gia đình, nhằm vận động ủng hộ tù chính trị và hưởng ứng cuộc mít tinh vào mùa hè  năm 1940.
Đầu năm 1940, đồng chí Trần Như Hoạt (Trần Bảo) thoát khỏi nhà tù Thái Bình vào cơ quan bí mật của Xứ ủy Bắc Kỳ đóng ở Nghĩa Trang (Hoằng Hóa). Sau khi vào Thành phố, đồng chí đã bắt mối với Vũ Đình Chung và giao cho đồng chí Chung cung cấp đá in lytô cho Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình. Vũ Đình Chung giới thiệu Trần Hoạt với Bùi Kính Thăng. Nguyễn Đình Thực, Phạm Văn Sáu, Trương Khâm, Cao Xuân Dị. Đỗ Trọng Thuận, Bùi Kính Thăng cung cấp bản đồ Thanh Hóa cho Trần Hoạt nghiên cứu địa hình xây dựng chiến khu Ngọc Trạo phía Tây Bắc Thanh Hóa và chiến khu Yên Mỹ phía Tây Nam Thanh Hóa.
Cũng thời gian ấy, đồng chí Bùi Lâm sau khi bị lộ ở Hải Phòng, đã vào Thanh Hóa bắt mối xây dựng cơ sở nhà bà Nguyễn Thị Dịa (thân mẫu đồng chí Vũ Đình Chung).
Tại khu vực Thành phố Thanh Hóa, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, đầu năm 1940, đồng chí Đào Duy Dếnh, cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ ra Thanh Hóa liên lạc với Đảng bộ Thanh Hóa. Đồng chí Đào Duy Dếnh đã liên lạc được với các đồng chí Lê Tất Đắc, Lưu Văn Bân, Nguyễn Đức Nhuận và một số đồng chí khác. Tháng 3-1940, các đồng chí đã tổ chức cuộc họp tại Bút Sơn (Hoằng Hóa), thành lập Tỉnh ủy lâm thời, cử đồng chí Nguyễn Đức Nhuận làm Bí thư.
Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Nhân cơ hội này, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân ta lại phải rên xiết dưới hai tầng áp bức của phát xít Pháp-Nhật. Nhưng ách áp bức bóc lột càng nặng nề thì tinh thần và khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta lại càng dâng cao. Tháng 9-1940, khi phát xít Nhật kéo vào Lạng Sơn, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã bùng nổ. Tiếp đó, tháng 11-1940, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ oanh liệt. Trước diễn biến mới của phong trào cách mạng thế giới và trong nước, tháng 11-1940, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh). Hội nghị nhận định: sự xâm lược của phát xít Nhật và sự đầu hàng của thực dân Pháp làm cho nhân dân ta lâm vào tình trạng “một cổ hai tròng”. Đảng ta dự đoán “những biến cố xảy ra sẽ đẩy nhân dân Đông Dương đến một tình thế phải tranh đấu quyết liệt để sống… Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”.
Trước tình thế mới của cách mạng nước ta, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, với nhận định: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng)-mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. 
Tháng 5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chủ trì Hội Nghị Trung ương lần thứ Tám. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh; đề ra chủ trương sửa soạn khởi nghĩa vũ trang; quyết định duy trì và phát triển cơ sở du kích Bắc Sơn-Võ Nhai, đồng thời ra sức củng cố, mở rộng cơ sở ở Cao Bằng, xây dựng những nơi đó làm trung tâm của việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc về sau.
Hội nghị khẳng định việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn trước mắt. Với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn. Hội nghị nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là phát triển đảng viên và đào tạo cán bộ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã phát triển hoàn chỉnh đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Nghị quyết Hội nghị đã nhanh chóng được phổ biến đến các địa phương. Cán bộ, đảng viên của Đảng mang tinh thần của Nghị quyết Trung ương đến với quần chúng, biến tinh thần ấy thành lực lượng vật chất to lớn của cách mạng.
Quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết, trước sự phát triển của phong trào cách mạng trong vùng, tháng 7-1941, Chiến khu Ngọc Trạo được xây dựng. Nhiều chiến sĩ cộng sản ở Thành phố đã lên chiến khu hoạt động cách mạng như Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Phạm Văn Sáu,… Các cơ sở cách mạng ở Thành phố cũng không hoạt động công khai như trước, rút vào bí mật, tổ chức tiếp cận tài liệu bí mật của Đảng bằng cách truyền tay nhau nghiên cứu.
Tháng 12 - 1941, phát xít Nhật chính thức tuyên chiến với Mỹ – Anh, gây ra chiến tranh Thái Bình Dương. Thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” phát xít Nhật đưa vào Thanh Hóa một phái đoàn kinh tế để khảo sát các khu vực rừng núi, hầm mỏ, lập kế hoạch khai thác tài nguyên, đồng thời còn đặt Tòa hiến binh Nhật bên cạnh Tòa công sứ Pháp. Chúng còn đưa vào Thanh Hóa một đội quân gồm đủ các sắc lính đông tới 1000 tên, đóng rải rác khắp Thành phố.
Đầu năm 1942, đồng chí Lê Tất Đắc vượt nhà tù Buôn Ma Thuột về Lò Chum bắt liên lạc với đồng chí Nguyễn Đình Thực gây dựng cơ sở cách mạng.
Tháng 5-1942, vừa thoát khỏi nhà tù thực dân, đồng chí Vũ Đình Chung ra Hà Nội chắp nối được liên lạc với các đồng chí Vũ Đình Huỳnh và Nguyễn Lương Bằng, qua đó được biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng từ tháng 1-1941 và chủ trì Hội nghị Trung ương VIII (tháng 5-1941).
Đem tài liệu về Thanh Hóa, đồng chí Vũ Đình Chung làm nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến chính sách Mặt trận Việt Minh chống lại luận điệu lừa bịp của bọn Đại Việt và bắt mối lại với các cơ sở cũ: Trương Khâm, Vũ Đức Huề (Trần Quang Huy) xây dựng thành nhóm lãnh đạo Việt Minh Thành phố, từ đó phát triển rộng ra. Rút kinh nghiệm bài học giữ bí mật, nhóm lãnh đạo Việt Minh Thành phố phát triển tổ chức theo giới nghề nghiệp có nhiệm vụ cụ thể:
- Nhóm vận động tiểu thương do đồng chí Nguyễn Khắc Thiệu phụ trách, có nhiệm vụ chủ yếu là vận động trợ giúp đồng bào nghèo khó.
- Nhóm Lò Chum do bà Trần Thị Nam phụ trách, công việc chính là phân phối báo Cứu quốc, báo Cờ giải phóng, bán tín phiếu Việt Minh.
- Nhóm bệnh viện do chị Nguyễn Thị Nghiên phụ trách đã xây dựng được tổ Việt Minh bệnh viện, nhờ đó đã chăm sóc, chữa bệnh cho nhiều tù chính trị thoát khỏi hiểm nghèo. Trong quan hệ nghề nghiệp, chị Nghiên còn phát triển rộng được nhiều nhóm: Vệ Yên, nhà máy Đèn, Dốc ga…
- Nhóm trường học do đồng chí Hồ Trúc (Nguyễn Tài Uyên) giáo viên trường tư Nord’ Annam phụ trách.
- Nhóm công chức và binh lính do Lê Xuân Phùng phụ trách, đã xây dựng lực lượng nòng cốt lập nên nhóm Binh sĩ cứu quốctừ Đội Lân, Đội Dục…
Tháng 7-1942, đồng chí Tố Hữu vượt ngục Đắc Lây, về Lò Chum bắt liên lạc với Nguyễn Đình Thực. Đến cuối năm 1942, sau Hội nghị cơ sở Đảng ở làng Thượng (Nga Sơn), Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa mới nhận được Nghị quyết Trung ương 8 và Chương trình hành động của Việt Minh, chuyển Thanh Hóa ái quốc Hội sang Đoàn thể cứu quốc. Sau đó, Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa được chính thức công nhận.
Mùa Xuân 1943, Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức trong chiến dịch Stalingrat. Phát xít Nhật sa lầy trong chiến tranh Thái Bình Dương buộc Pháp phải ký Hiệp ước kinh tế Nhật – Pháp (7-1943) để cướp thóc gạo và nông sản phẩm của nhân dân ta theo hình thức “thóc tạ, bông cân”. Chúng quy định mỗi người dân ở vùng có nông giang phải bán 1,4 kg thóc với giá bằng 1/4 giá thị trường lúc bấy giờ. Chúng còn ra lệnh buộc nông dân nhổ lúa trồng đay. Đồng thời bắt phu đi nạo vét sông Hói Đào (Nga Sơn), kênh Than, đào sông Hồ Thượng (Tĩnh Gia)… nhằm vận chuyển phương tiện phục vụ nhu cầu chiến tranh. Hàng chục vạn đồng bào trong tỉnh phải nai lưng, đổ mồ hôi, có khi cả xương máu dưới lưỡi lê và báng súng của Nhật – Pháp, sản xuất bị đình đốn, đời sống nhân dân lao động vô cùng cơ cực.
Ngày 24-6-1943, Tỉnh ủy Thanh Hóa mở Hội nghị tại Hà Trung, nhằm hướng dẫn phong trào toàn tỉnh gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa.
Tỉnh bộ Việt Minh có nhiều chỉ thị: Khẩn cấp tuyên truyền, chống thu lúa, nỗ lực đấu tranh… nhằm cho quần chúng thấy rõ tội ác của giặc Pháp, tố cáo hành động phản quốc của bọn Đại Việt, nêu cao khẩu hiệu “Kiên quyết không để một đồng xu, một hạt thóc, một tên lính cho quân cướp nước Nhật- Pháp”
Ở Thành phố, bọn tay sai Đại Việt cộng tác chặt chẽ với Hiến binh Nhật đàn áp dã man nhân dân, bắn giết tại chỗ những ai chống lại chúng. Không khí chính trị lúc bấy giờ hết sức ngột ngạt.
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo khôn khéo của Mặt trận Việt Minh, các tầng lớp nhân dân Thành phố đã phát huy lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Các em thiếu nhi khu Bến Cốc vừa chăn trâu, vừa quan sát tình hình quân Nhật làm sân bay Lai Thành, thu lượm được nhiều tin tức chính xác về những hành động khủng bố, ngược đãi của bọn Nhật đối với người lao động tại các cơ sở phục vụ quân đội Nhật, cung cấp cho Việt Minh. Thanh niên nông dân các làng ngoại thành chặt cây, đào gốc không cho chúng buộc ngựa, hoặc tháo dây buộc ngựa, làm chúng mất ăn, mất ngủ,…
Phối hợp với phong trào đấu tranh rộng lớn bên ngoài, 244 chiến sĩ cách mạng bị giam trong nhà lao tỉnh đã tuyệt thực với yêu sách: Không được đánh đập tù nhân, phải phát chăn chiếu cho tù nhân, cho tù nhân ăn cơm rời không ngâm vôi, phải thay mắm thối, những buổi đi làm tù nhân được nghỉ một lần và có nước uống, phải cho tù nhân viết thư, cho người nhà đến thăm và gửi quà bánh, mỗi tháng được ra sân một lần… Cuộc tuyệt thực kéo dài 7 ngày đêm bất chấp mọi thủ đoạn đàn áp khủng bố của kẻ thù, cuối cùng chúng phải chấp nhận các yêu sách của cuộc đấu tranh.
Tháng 5-1944, sau khi thoát khỏi nhà tù, chị Sảng giao thông viên của Tỉnh liên lạc gây cơ sở nhà chị Trần Thị Đông, phố Nhà Thương. Thường ngày chị Đông nhận sách, báo cách mạng như: Cờ giải phóng, Đuổi giặc nước, Gái ra trận, Thơ Tố Hữu, Điều lệ Việt Minh… tại nhà chị Lê Thị Liên Huyền (Lò Chum) chuyển đến cho chị Nguyễn Thị Sáu (phố Dốc Ga), chị Nguyễn Thị Nghiên (phố Cửa Tiền), chị Hảo (Phố Lớn), chị Huấn (y tá phòng khám bệnh y sĩ Lê Kiểu),… vận động quyên tiền ủng hộ Việt Minh, chép tôn chỉ mục đích Việt Minh thành nhiều bản chuyển cho tổ chức để phân phối đi các nơi.
Không chịu nổi cảnh áp bức bóc lột của bọn chủ Nhà máy Diêm, trước nạn giá cả leo thang nhanh chóng, đời sống ngày càng cơ cực, được Việt Minh tỉnh chỉ đạo, ngày 12-6-1944 công nhân Nhà máy Diêm Hàm Rồng đã bãi công chống lại chính sách hà khắc của bọn chủ với các yêu cầu: Chống đánh đập và chửi mắng thợ; chống cúp phạt và giãn thợ; tăng lương và giảm giờ làm. Bọn chủ Nhà máy không chịu đáp ứng yêu sách của công nhân, lại còn đe dọa, đồng thời cũng tìm cách dụ dỗ, mua chuộc hòng phá hoại cuộc bãi công, công nhân Nhà máy đã nêu cao cảnh giác, đoàn kết đấu tranh kiên cường trong 4 ngày, buộc chủ Nhà máy phải thực hiện những yêu sách chính đáng của mình.
Tháng 10-1944, đồng chí Bùi Đạt sau khi thoát khỏi nhà tù, bắt liên lạc xây dựng cơ sở ở nhà chị Nguyễn Thị Túy Nga phố Cầu Sâng. Là người thường xuyên tiếp xúc với giới phụ nữ lao động nghèo, buôn thúng bán mẹt, người làm thuê, cô đầu, con hát,... Nguyễn Thị Túy Nga đã tuyên truyền, giác ngộ họ, có trường hợp lấy cắp súng đạn của bọn sĩ quan Nhật nộp cho cách mạng, cơ sở do chị Nguyễn Thị Túy Nga xây dựng trải dài từ Cầu Sâng, Cửa Hậu lên Dốc Ga.
Cuối năm 1944, Tỉnh ủy Thanh Hóa phân công đồng chí Đinh Chương Lân phụ trách Thành phố và khu vực Hoằng Hóa. Về Thành phố, đồng chí Đinh Chương Lân đã chắp nối liên lạc với Vũ Đình Chung.
Chiến tranh thế giới càng bước vào giai đoạn cuối thì phát xít Nhật ở Đông Dương càng đẩy mạnh chính sách đàn áp, bóc lột. Thủ đoạn lừa bịp của Nhật “thu lúa để bán rẻ cho dân nghèo” thực chất là vơ vét lương thực để cung cấp cho binh lính Nhật. Thêm vào đó nạn lụt bão lớn năm Giáp Thân (1944) làm mất mùa nghiêm trọng, vì vậy từ giáp Tết Ất Dậu (1945) nạn đói đã xảy ra khắp làng quê và thành thị. Bị đánh đập tàn nhẫn bằng roi vọt, cùng với cái đói giày vò, dân phu đắp sân bay Lai Thành cho quân Nhật đã hợp lực phá kho gạo của Nhật giải quyết nạn đói. Bọn Nhật bắt hai dân phu định chôn sống, hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng, nhưng dân phu thành phố liền tổ chức đốt một trại lính Nhật trong sân bay, khiến chúng phải tập trung lực lượng cứu chữa, nên đã cứu thoát hai dân phu khỏi bàn tay tàn bạo của giặc Nhật.
Cũng trong thời gian này, các cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh diễn ra liên tục bằng hình thức dán truyền đơn tố cáo hành động dã man của nhà cầm quyền, kêu gọi hoạt động đoàn kết đấu tranh. Ngày 16-1-1945, học sinh đã dán truyền đơn kêu gọi tăng cường đoàn kết trong học sinh, tố cáo những hành động dã man của nhà cầm quyền.
Nhóm Việt Minh trường Bưởi ở Thành phố đã có quy ước không được rải truyền đơn trong Thành vì phạm vi hẹp, kẻ thù dễ phát hiện. Nhưng anh Nguyễn Ngọc Diệp thấy tiếc công in vẫn đem rải. Mật thám truy lùng bắt Diệp hỏi cung. Thế là cả 4 học sinh trường Bưởi: Nguyễn Ngọc Diệp, Phạm Hồng Cư, Trần Việt Phương, Nguyễn Phan Tính (Trần Đức) đều bị bắt. Các anh Phạm Quang Hoàn, Bùi Quang Định, Trương Khâm, Đỗ Trọng Thuận cũng sa lưới địch. Đồng chí Võ Đức Huề đi Huế trong dịp Tết, tối mồng 6 ra đến ga Thanh Hóa cũng bị mật thám bắt. Hồ Trúc về quê ăn Tết, sáng mồng 7 Tết vừa đến trường cũng bị mật thám bắt. Riêng đợt vây ráp này đã có 12 người bị địch bắt giam.
Một nhiệm vụ rất quan trọng, bức thiết của thời kỳ này là phải giành được sự ủng hộ của thanh niên trí thức, học sinh đứng về phía cách mạng, tránh kẻ thù lợi dụng lôi kéo. Từ năm 1936, Công-xi-nhi (Consigny) chánh Sở Kiểm lâm Nam Bộ đã phát triển Hội Hướng đạo sinh Pháp (Éclaireur de France) nhằm cuốn hút lớp thanh niên có học ở Đông Dương trung thành với “Nước mẹ”. Buổi đầu Hướng đạo sinh Thanh Hóa đều do những công chức trung thành với chế độ thực dân nắm, như Trần Diền, Nguyễn Hòa Phẩm, Đoàn Đức Thoan…
Đối lập với họ là những đảng viên cộng sản, những cựu chính trị phạm và những thanh niên yêu nước, giác ngộ cách mạng, đã trực tiếp tổ chức tập hợp hướng đạo sinh theo phương hướng của các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu là “đào tạo thành người quốc dân” từ sau khi Liên đoàn Hướng đạo sinh Đông Dương trở thành đơn vị độc lập năm 1940. Đó là các anh, các chị: Lê Hữu Kiều, giáo viên trường Lam Sơn lập Đoàn Thiếu sinh Lê Lai; Lê Huy Hoạt, giáo viên trường Nord’ Annam của Phùng Quang Lan, lập Đoàn Thiếu sinh Lê Lợi; Trương Khâm, Nguyễn Thị Nghiên lập Bầy sói con Nguyễn Kim; Nguyễn Thế Kỷ lập Bầy sói con Nguyễn Hoàng,…
Về sau họ đều giữ những vai trò chủ chốt trong Hướng đạo sinh, và đã xác định rõ nhiệm vụ là phải giành lấy những quần chúng tiến bộ trong tổ chức này, giác ngộ cách mạng cho họ.
Hướng đạo sinh Thanh Hóa có cơ quan ngôn luận riêng là tờ báo Bạn đường, được phát hành rộng rãi khắp các tỉnh miền Trung, vào Sài Gòn, qua Phnômpênh, Viênchăn. Bạn đường đã vượt ra ngoài khuôn khổ một tờ báo Hướng đạo sinh, nên nhà cầm quyền kiểm duyệt gắt gao.
Hướng đạo sinh Thanh Hóa còn có Hội thể thao riêng là Xitaspo đối lập với Hội bóng đá Kiến Hương của Phan Văn Giáo, tay sai của thực dân Pháp. Trong những hoạt động riêng của Hướng đạo sinh như cắm trại, họp mặt, diễn kịch hoặc tham gia phong trào thể thao Duy-cu-roy (Ducouroy) do nhà cầm quyền tổ chức. Những người lãnh đạo đã được giác ngộ cách mạng đều tìm cách giáo dục lòng yêu nước dưới các hình thức thích hợp, để hướng cho Hướng đạo sinh Thanh Hóa coi trọng công tác quyên góp giúp đỡ người nghèo, nhất là trong nạn đói năm Ất Dậu 1945.
Chính sách bóc lột hà khắc của Pháp-Nhật và nạn lụt cuối năm 1944 đã gây nên nạn đói trầm trọng chưa từng có vào đầu năm 1945. Cả tỉnh có hàng vạn người chết đói. Không hiếm những trường hợp đau thương cả gia đình bị chết đói cùng nơi, cùng lúc. Để đối phó với nạn đói, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Chỉ thị “Đòi ăn”, nêu khẩu hiệu “Quyết giữ lấy thóc mà ăn, không để lọt một hạt thóc vào tay Pháp-Nhật”, vận động nhân dân làm đơn đòi cứu tế, vay lương thực, chặn xe chở thóc, ngô của địch.
Hướng đạo sinh quyên góp gạo nấu cháo, những chuyến xe bò đi nhặt xác người chết đói chở ra vùi chung ở các bãi tha ma, nghĩa địa ven Thành phố.
Số báo Khởi nghĩa đầu tiên của Tỉnh bộ Việt Minh ra ngày 15-2-1945 (mồng 3 tháng Giêng Ất Dậu) đã phân tích rõ: Toàn dân ta giờ đây đã vô cùng cực khổ, nhất định sẽ cầm khí giới đứng lên đánh đuổi giặc Nhật, giặc Pháp, năm Ất Dậu 1945, phải thấy cuộc khởi nghĩa vĩ đại của dân tộc Việt Nam…”Báo Khởi nghĩa khẩn thiết kêu gọi: “Hỡi các giới đồng bào yêu nước! Hỡi các đồng chí cứu quốc! Cơ hội khởi nghĩa không đợi người! Bỏ lỡ dịp này là tội lớn! Sửa soạn gấp lên! Năm khởi nghĩa đã bắt đầu!...”
4. Từ  ngày 9-3-1945 đến ngày 19-8-1945
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Hồng quân Liên Xô đã quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Béclin, sào huyệt cuối cùng của Đức quốc xã.
Ở mặt trận Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng bị nguy khốn. Lợi dụng cơ hội này, bọn Pháp Đờ Gôn (De Gaulle) ở Đông Dương hoạt động ráo riết để khôi phục lại quyền thống trị của chúng.
Biết rõ âm mưu đó, đêm mồng 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ở tỉnh Thanh Hóa, bộ máy thống trị của thực dân Pháp nhanh chóng rệu rã, hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Cuộc xung đột vũ trang giữa Nhật và Pháp tại Thành phố chỉ diễn ra trong chốc lát. Sau vài loạt đạn súng máy của Nhật, thực dân Pháp đã nộp súng đầu hàng. Sau khi đảo chính, phát xít Nhật dựng lên một bộ máy chính quyền bù nhìn.
Ở Thanh Hóa, Nhật dựng Hà Văn Đại làm Tỉnh trưởng. Bộ máy tay sai của Nhật do nhiều đảng viên Đại Việt nắm giữ, nhằm giành giật quần chúng với Việt Minh, họ ra sức lôi kéo tầng lớp trên vào Việt Nam Liên minh kiến thiết độc lập đoàn, thực hiện thuyết Đại Đông Á của Nhật.
Ngay đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) để nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới. Hội nghị đã phân tích nguyên nhân cuộc đảo chính và chỉ rõ Nhật sẽ là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương, nên sự chỉ đạo chiến lược của Đảng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Các hình thức tuyên truyền, cổ động, đấu tranh đều phải chuyển hướng để gấp rút chuẩn bị võ trang khởi nghĩa.
Trước tình hình nạn đói hoành hành, trước vấn đề sống còn của hàng triệu người, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương (9-3-1945) đã quyết định lãnh đạo nhân dân thực hiện khẩu hiệu "đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế", "phá những kho gạo thóc của đế quốc" để giải quyết nạn đói. Đảng coi đây là một trọng tâm công tác, là khâu chính để biến lòng căm thù của nhân dân thành hành động cứu nước, gắn cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật với khởi nghĩa từng phần, thực hiện khẩu hiệu "Chính quyền cách mạng của nhân dân". Thực hiện chủ trương của Hội nghị, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã ra nhiều thông cáo, truyền đơn giải thích cho nhân dân hiểu rõ nguyên nhân của nạn đói chính là chính sách tàn bạo của Nhật, Pháp; chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim không giải quyết được nạn đói; chỉ bằng cách đoàn kết đấu tranh, đánh đổ chính quyền phát xít và tay sai thì mới khỏi đói, khỏi chết đói. Đảng và Mặt trận Việt Minh hô hào nhân dân đứng lên biểu tình chống thu thóc, đòi phát gạo, phá các kho thóc của Nhật, chặn đánh các đoàn thuyền, đoàn xe chuyên chở thóc gạo của Nhật để chia nhau cứu đói,... .
Đáp ứng đúng nguyện vọng của toàn dân, giải quyết từng mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội nước ta, chủ trương của Đảng đã lôi cuốn hàng triệu  quần chúng vào phong trào phá kho thóc, chống đói với nhiều hình thức từ thấp đến cao, phong phú và sáng tạo.
Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị xác định rõ : “Nhiệm vụ trước mắt là gấp rút chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước” và Khẩu hiệu hành động là “Đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ Đảng phải "Thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa", phải cổ động quần chúng mạnh dạn lên mặt trận đấu tranh, tập dượt cho quần chúng  mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa  nhằm “Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.
Chỉ thị được đề ra đúng lúc chính quyền địch ở cơ sở đang hoang mang dao động, đúng lúc nạn đói ở Thanh Hóa diễn ra nghiêm trọng, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người nghèo khổ, bởi vậy nhanh chóng có sức hiệu triệu to lớn, thôi thúc mọi người dân đứng lên một phen sống chết với kẻ thù Nhật-Pháp.
Tháng 4-1945, Tỉnh ủy Thanh Hóa nhận được Chỉ thị Nhật –Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Trung ương Đảng, đã khẩn trương mở hội nghị thống nhất vận dụng trong hoàn cảnh của tỉnh.
Vấn đề trọng yếu lúc bấy giờ là làm sao có đủ cán bộ cung cấp cho phong trào trong khi hơn 300 tù chính trị đang bị giam giữ ở nhà lao Thanh Hóa. Một mặt, Ban lãnh đạo tù chính trị tổ chức cho nhiều người vượt ngục. Mặt khác, Việt Minh Thành phố tổ chức biểu tình tuần hành, nêu cao khẩu hiệu đòi “thả tù chính trị phạm” để gây sức ép với Nhật. Đồng thời tận dụng sự thân quen của một số đảng viên Tân Việt cũ nay là đảng viên Đại Việt, yêu cầu Nhật thả tù chính trị với lý do “những người này đã tranh đấu cho nền độc lập Việt Nam”. Nhật tiến hành xét xử vụ rải truyền đơn của học sinh trường Bưởi. Trước phiên tòa, cả 12 người – trong đó có các đồng chí Trương Khâm, Đỗ Trọng Thuận đều đồng thanh nêu rõ: “Mục đích đấu tranh của chúng tôi là giành độc lập cho dân tộc. Nay Chính phủ mới đã tuyên bố Việt Nam độc lập, vậy thì chúng tôi không phải là người có tội mà lại là người có công”. Trước lý lẽ đó, chủ tọa phiên tòa phải tuyên bố trắng án, mọi người được tự do trở về địa phương.
Tiếp sau đó là việc trả lại tự do cho các tù chính trị khác, mọi người trở về quê cũ, hòa mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng theo sự tổ chức của Việt Minh do Đảng Cộng sản lãnh đạo để thực hiện giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau cuộc đảo chính của Nhật, đồng chí Lê Tất Đắc từ nhà giam ở Hà Nội về Thanh Hóa. Đồng chí Phạm Văn Sáu từ nhà tù Buôn Ma Thuột trở về. Đồng chí Nguyễn Đình Thực bị địch giam từ tháng 4-1944 thoát khỏi nhà lao.
Đồng chí Lê Tất Đắc về Lò Chum bắt liên lạc với gia đình đồng chí Nguyễn Đình Thực và giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Yêm phụ trách công tác thanh niên; Nguyễn Thị Bích Thủy phụ trách công tác phụ nữ; Võ Đức Suyện (Hồ Lịch) thôi học ở trường Bưởi tham gia vào liên đoàn học sinh làm công tác văn hóa từ thiện; Vũ Đình Chung lợi dụng tổ chức Vovinam (Võ Việt Nam) làm vỏ bọc để huấn luyện tự vệ. Các anh Trần Nhật Huy, Trần Quang Huy, Lê Văn Bảng, Lê Trọng Nghĩa,… những trưởng nhóm Vovinam hướng dẫn hội viên luyện tập đều đặn.
Nhận rõ dã tâm của phát xít Nhật, rút kinh nghiệm về hoạt động công khai thường bộc lộ lực lượng rất nguy hiểm, nên Việt Minh Thành phố quy ước ngặt nghèo việc giữ giới hạn “nhóm 3 người” thì nhất thiết không trao đổi công việc với nhau. Nhờ vậy, khi nhóm học sinh trường Bưởi bị bắt, không lây lan rộng sang các nhóm khác trong Thành phố.
Tin tức khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng khu giải phóng,… qua báo chí và người buôn bán đi khắp nơi đem về, một mặt làm cho các tầng lớp nhân dân lao động Thành phố vô cùng phấn khởi, sẵn sàng hành động theo Việt Minh để giành chính quyền, mặt khác cũng làm cho những kẻ thuộc tầng lớp thống trị hoang mang, dao động, tinh thần suy sụp rõ rệt. Lúc này Hội Phụ nữ cứu quốc phát triển khá rộng khắp, như nhóm chị Túy Nga ở Cầu Sâng, nhóm chị Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Ân ở Bào Nội, nhóm chị Trâm, chị Bốn, chị Thôn ở Lò Chum, nhóm chị Đông ở phố Nhà Thương, nhóm chị Phượng ở phố Ngang, nhóm chị Nghiên ở phố Cửa Tiền, nhóm chị Trúc Nhự ở phố Cửa Tả, nhóm chị Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Sáu ở phố Dốc Ga… Ngoài việc tổ chức chuyền tay nhau đọc sách báo cách mạng, các chị còn quyên góp ủng hộ Việt Minh được một đôi khuyên vàng và 200 đồng Đông Dương, thu được 4.000 đồng Đông Dương về bán tín phiếu Việt Minh với mệnh giá 200 đồng một tờ phiếu.
Nhận Chỉ thị Sắm sửa vũ khí đuổi thù chung của Tỉnh bộ Việt Minh, các nhóm Thanh niên cứu quốc trong Thành phố hăng hái luyện tập võ thuật,  sắm sửa vũ khí thô sơ chuẩn bị giành chính quyền. Đó là các nhóm: Phan Văn Duệ (Cửa Tiền), Lê Kinh Hùng (Phố Ngang), Lê Xuân Tương (phố Huế), Lê Huy Hoạt (phố Pônbe - Paul Bert), Lê Liên Cảnh, Lê Liên Huyền, Nguyễn Thị Tùng (phố Lò Chum), Nguyễn Thế Kỷ, Vũ Tiến Thọ, Nguyễn Thiếu Quý (phố Ga), Lê Đình Bộc (Nhà máy Đèn); các nhóm Công nhân cứu quốc: Tô Ân (thợ may), Trịnh Công Song (xe kéo), Nguyễn Thị Hợp (xe ba gác).
Trong quá trình hưởng ứng và thực hiện Chỉ thị trên, nhóm Thanh niên cứu quốc ga Thanh Hóa đã phối hợp với Trưởng ga cũng là nhóm viên Việt Minh, vào một đêm tối trời cuối tháng 4 đã cắt 2 toa xe cuối cùng trong đoàn tàu quân sự của Nhật, rồi thay vào đó bằng 2 toa chở đầy đá núi Nhồi. Khi đoàn tàu chuyển bánh về phía Nam, trời vẫn mưa tầm tã, các nhóm Tự vệ cứu quốc nhà Ga đã tháo dỡ 2 toa tàu quân sự, một toa vải bạt che ô tô và máy bay, một toa súng trường không có đạn. Ngay đêm hôm đó anh em đã chuyển hết hàng giao cho Việt Minh tỉnh.
Nhóm Thanh niên cứu quốc Nhà máy Đèn thông qua việc kiểm tra đồng hồ đo điện để trinh sát các trại lính Nhật, lính Bảo an, nắm tình hình quân số, trang bị vũ khí địch báo cho Việt Minh. Sau Nhật đảo chính, chủ Tây đã bị bắt, còn lại Hoàng Văn Ngọc thì hoang mang, dao động. Nhưng nhóm Việt Minh nhà máy do Võ Nguyên Lượng chỉ đạo vẫn đảm bảo cung cấp điện, nước sinh hoạt cho nhân dân, không để chính quyền địch vào kiểm tra, kiểm soát nhà máy.
Tháng 7-1945, đồng chí Lê Tất Đắc được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ chủ trì việc kiện toàn Ban Cán sự Việt Minh Thành phố do đồng chí Phạm Văn Sáu làm Trưởng ban.
Đầu tháng 8-1945, bộ máy chính quyền tay sai của Nhật rệu rã. Một số công chức bỏ việc về nhà, lính Bảo an đào ngũ. Phong trào cách mạng trong Thành phố ngày càng lên cao, đòi hỏi có sự chỉ đạo sát sao, thống nhất và chặt chẽ hơn của Mặt trận Việt Minh.
Chiều ngày 13-8-1945, Hội nghị Tỉnh ủy ở Mao Xá (Thiệu Hóa). Nhận được tin Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, Hội nghị đã căn cứ vào Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm 7 ủy viên, đồng chí Lê Tất Đắc làm Trưởng ban, chỉ định Ủy ban nhân dân lâm thời cách mạng Tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Lê Tất Đắc làm Chủ tịch (Thành phố có 1 người tham gia Ủy ban là đồng chí Nguyễn Đình Thực, Ủy viên tư pháp); chỉ định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố và 12 huyện miền xuôi, đồng thời quyết định thời gian khởi nghĩa vào đêm 18 rạng ngày 19-8-1945.
Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 13-8-1945 và Quốc dân Đại hội Tân Trào, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, cử Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ngày 16-8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh nhân danh Ủy ban dân tộc giải phóng gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi đồng bào cả nước, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Không khí khởi nghĩa sục sôi trong cả nước và Tỉnh Thanh Hóa.
Đêm 16-8-1945, đồng chí Lê Tất Đắc viết thư gửi Chỉ huy Quân đội Nhật yêu cầu không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, đồng thời yêu cầu họ phải tập trung quân về một địa điểm.
Sáng 17-8-1945, đồng chí Phạm Văn Sáu trực tiếp gặp chỉ huy quân đội Nhật để giao lá thư của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh. Cuộc đấu trí vừa mềm mỏng, vừa kiên quyết, diễn ra gần hết buổi sáng đã thuyết phục được quân Nhật đồng ý rút quân về đóng ở nhà Dòng và không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam.
Chiều 17-8-1945, Đại Việt tổ chức mít tinh nhằm trấn an công chức, binh lính và lôi kéo quần chúng. Giữa lúc Đại Việt vừa tập hợp xong quần chúng thì đồng chí Nguyễn Văn Yêm đã thổi một hồi còi dài, rồi hô các khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập”, “Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”, “Ủng hộ Việt Minh”... Rất nhiều tiếng hô cùng hưởng ứng. Việt Minh Thành phố đã biến cuộc mít tinh của Đại Việt thành cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh.
Tối 17-8-1945, nhận được tín hiệu đầu hàng của Tỉnh trưởng, đồng chí Phạm Văn Sáu khẩn cấp triển khai công tác tuyên truyền nhằm thăm dò dư luận thái độ quân đội Nhật, lính Bảo an và cả bộ máy chính quyền bù nhìn. Nhiều tờ áp phích chép lại bức thư của Việt Minh tỉnh gửi quân đội Nhật được viết bằng cả chữ quốc ngữ và chữ Hán đem dán ở các bờ tường lớn ngã ba, ngã tư đường phố. Các anh Vũ Đình Chung và Lê Xuân Phùng được phân công kiểm tra nắm chắc mọi động tĩnh của Bảo an binh và huy động lực lượng tự vệ Vovinam chuyển thành lực lượng tự vệ Việt Minh. Chị Bích Thủy cùng với chị Nguyễn Thị Trâm được phân công may cờ đỏ sao vàng và phù hiệu tự vệ…
Sau vụ phá mít tinh do Đại Việt tổ chức, đồng chí Nguyễn Văn Yêm và Võ Đức Suyện (Xuyện) đã tạm lánh mặt để tránh sự trả thù của chúng, hôm sau mới trở về nhà. Đồng chí Lê Liên Giao, Võ Đức Suyện nhận nhiệm vụ viết khẩu hiệu, áp phích.
Tối 18-8-1945, đã diễn ra Hội nghị mở rộng tại nhà đồng chí Lê Liên Giao do đồng chí Phạm Văn Sáu chủ trì. Sau khi kiểm tra tình hình mọi mặt, phân tích, so sánh lực lượng, các đồng chí dự họp nhận thấy quân đội Nhật tỏ thái độ muốn được an toàn để rút về nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam. Song, ta vẫn phải đề phòng vì chúng chưa thực sự rút hết quân về địa điểm tập kết.
 Lực lượng Bảo an binh do Quản Hiến chỉ huy, sau bốn lần đại bại ở Hoằng Hóa đã phải nhục nhã rút quân về Thành phố, song vẫn còn cử Đội Thuật dẫn một đội quân lên Thiệu Hóa chống phá khởi nghĩa.
Dù sao trong Bảo an binh vẫn còn nhóm Binh sĩ cứu quốc làm nội ứng, còn hệ thống chính quyền tay sai cấp thành phố và cấp khu phố hầu như tan rã. Tỉnh trưởng thì lo sợ bị bắt, bị tù đày, thậm chí còn sợ bị giết. Về phía cách mạng, Việt Minh đã thống nhất một đầu mối lãnh đạo, điều hành, chỉ huy thông suốt, vụ phá mít tinh do Đại Việt tổ chức chiều 17-8 có tiếng vang trong nhân dân, việc dán áp phích trong ngày 18-8 không gặp phản ứng của địch, quần chúng cách mạng hồ hởi chờ lệnh tổng khởi nghĩa.
Xuất phát từ tình hình trên, Hội nghị thống nhất phương châm hành động là Kiên quyết nhưng không quá khích, nhanh gọn nhưng không nóng vội, khôn khéo mà không máy móc cứng đờ.  Các công việc phải làm gấp là xác định đối tượng chính phải loại bỏ là Bảo an binh và Tỉnh trưởng, tích cực chuẩn bị mọi mặt để quân Nhật rút tới đâu thì tiến quân khởi nghĩa tới đó, thành lập Ban Chỉ đạo khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Phạm Văn Sáu, Nguyễn Văn Yêm, Vũ Đình Chung, Lê Xuân Phùng và Nguyễn Thị Bích Thủy. Ban Chỉ đạo phân công cụ thể: đồng chí Phạm Văn Sáu và Nguyễn Văn Yêm tiếp nhận sự đầu hàng của Tỉnh trưởng; Lê Xuân Phùng, Vũ Đình Chung tước khí giới của Bảo an binh, Bích Thủy lo hậu cần… Những người dự Hội nghị thì tùy khả năng cụ thể được phân công phụ trách công việc phù hợp.
Về lực lượng vũ trang, huy động toàn bộ lực lượng Vovinam thành đơn vị Tự vệ chiến đấu, được trang bị vũ khí thô sơ tự tạo, huy động một lực lượng quần chúng tuần hành thị uy hỗ trợ lực lượng tự vệ chiến đấu.
Sáng ngày 19-8-1945, quân đội Nhật lần lượt rút về nhà Dòng, nhưng vẫn giữ trạm gác ở ngã tư đường Tòa sứ. Trưởng Ban chỉ đạo khởi nghĩa Thành phố Phạm Văn Sáu trực tiếp đến gặp chỉ huy quân đội Nhật. Họ đồng ý rút hết quân về nhà Dòng với điều kiện lực lượng tự vệ cách mạng phải đóng xa nơi họ tập kết ít nhất là 500m, đồng chí Phạm Văn Sáu đã chấp nhận.
Lực lượng Tự vệ tham gia khởi nghĩa đã được chuẩn bị sẵn sàng và triển khai nhanh theo 2 mũi tiến công.
Mũi tiến công thứ nhất: Do các đồng chí Vũ Đình Chung và Lê Xuân Phùng chỉ đạo, Võ sư Vũ Thức chỉ huy quân sự, Nguyễn Khắc Thiệu chính trị viên. Lực lượng tự vệ ngồi trong 2 xe ô tô ca, tiến qua Cửa Hậu vào chiếm trại Bảo an binh. Nhờ làm tốt công tác binh vận nên mặc dù bọn chỉ huy có lệnh đóng cổng thành, nhưng không ai chấp hành. Lực lượng vũ trang cách mạng nhanh chóng áp sát trại Bảo an binh. Toàn thể bọn quản, đội, cai và số lính đang còn lại cùng với 30 khẩu súng mà phần lớn là súng săn (súng mousqueton đã bị bọn Nhật tước đi hồi đảo chính) đã nộp vũ khí đầu hàng. Các đồng chí Vũ Đình Chung, Lê xuân Phùng giải thích chính sách Mặt trận Việt Minh, tuyên bố giải tán lực lượng Bảo an binh, cho anh em về sinh hoạt với gia đình. Lê Xuân Phùng giữ toàn bộ chìa khóa doanh trại và cùng một số anh em trong đơn vị tự vệ ở lại kiểm soát doanh trại.
Mũi tiến công thứ 2: Do các đồng chí Phạm Văn Sáu và Nguyễn Văn Yêm chỉ huy vào chiếm Tòa sứ, nơi làm việc của Tòa Giám binh Nhật (khu chợ Vườn Hoa cũ hiện nay). Người vác cờ đi đầu đoàn tuần hành là Lê Xuân Tương. Vũ Tiến Thọ chỉ huy tự vệ. Đoàn quân tiến thẳng vào Tòa sứ, không gặp một hành động chống đối nào. Một phân đội tự vệ do đồng chí Vũ Tiến Thọ chỉ huy hộ vệ Nguyễn Văn Yêm cùng đi ngược đường trở lại Cửa Tả đi vào dinh Tổng đốc cũ. Tỉnh trưởng Nguyễn Trác nhanh chóng đầu hàng, giao nộp con dấu, hồ sơ tài liệu và 6 khẩu súng lục cho lực lượng cách mạng. Nguyễn Văn Yêm tiếp nhận và trao lại cho Vũ Tiến Thọ bảo quản để sau đó giao nộp cho Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh. Đơn vị tự vệ dẫn Nguyễn Trác về tạm giữ ở tầng 2 nhà ở của Công sứ cũ để chờ giải quyết.
Việc giành chính quyền tại thành phố tỉnh lỵ thực chất là do lực lượng cách mạng Thành phố được Việt Minh tổ chức và chỉ đạo đã tiếp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của Tỉnh trưởng và lực lượng Bảo an binh. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, không có đổ máu là do Việt Minh Thành phố chớp đúng thời cơ, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ và kiên quyết.
Tối 19-8, sau khi giành được chính quyền, Ủy ban khởi nghĩa Thành phố họp hội nghị mở rộng, lập ra Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố do đồng chí Phạm Văn Sáu làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Văn Yêm và y sĩ Lê Kiểu - một nhân sỹ trí thức làm Phó Chủ tịch, các ủy viên là những đại biểu cho các giới thanh niên, phụ nữ, công nhân, công thương, giáo giới…
Công việc khẩn thiết lúc bấy giờ là thiết lập chính quyền nhân dân tại các khu phố, từ 7 phường cũ đã chuyển thành 10 khu phố, từ khu phố 1 đến khu phố 10, thay đổi tên đường phố cho phù hợp với bối cảnh mới sau ngày nước nhà độc lập.
Sáng 20-8, các đồng chí được phân công đã tiếp nhận các công sở quan trọng: Nguyễn Khắc Thiệu, Lê Đình Huyến, Trần Nhật Quang tiếp quản Sở Cẩm đổi tên thành Công an tự vệ cục; Vũ Đình Chung tiếp quản Sở Liêm phóng đổi tên thành Trinh sát viện;  Nguyễn Xuân Lênh tiếp quản Nhà dây thép (Bưu điện); Võ Đức Suyện tiếp quản Nhà thông tin Thành phố đặt tại nhà Bác Cổ (Công ty phát hành sách hiện nay). Riêng Kho bạc và Nhà lao phải chờ sự chỉ đạo của Tỉnh.
Chiều ngày 20-8-1945, tại vườn hoa Độc lập (khu đất giới hạn bởi các đường: Lê Hữu Lập, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, đại lộ Lê Lợi hiện nay), Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Thành phố ra mắt đông đảo nhân dân. Chủ tịch Phạm Văn Sáu đọc tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, bảo vệ và ủng hộ chính quyền nhân dân; Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Yêm đọc lời kêu gọi Thanh niên gia nhập Thanh niên cứu quốc, tham gia các đội tự vệ giữ gìn trật tự an ninh trong Thành phố, hăng hái luyện tập quân sự bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đồng chí Nguyễn Thị Nghiên giới thiệu thành tích phụ nữ đấu tranh trong thời kỳ bí mật, kêu gọi chị em đoàn kết trong Hội Phụ nữ cứu quốc, ủng hộ cách mạng.
Những ngày tiếp theo đó là sự chuẩn bị sôi nổi đón chính quyền cách mạng cấp tỉnh về Thành phố. Các thành viên trong Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố chia nhau về các khu phố thành lập chính quyền cách mạng, phổ biến chính sách của Việt Minh, bầu Uỷ ban nhân dân lâm thời khu phố, kết nạp thanh niên vào tự vệ, lập nên các trung đội ở từng khu phố, học các bài hát cách mạng: Tiến quân ca, Bài ca chiến sĩ, Diệt phát xít, Nhớ chiến khu…, vận động các hiệu vải ủng hộ hoặc bán chịu vải đỏ, vải vàng, vận động các hiệu may may cờ đỏ sao vàng, thêu phù hiệu tự vệ chuẩn bị đón chính quyền cách mạng tỉnh và Cứu quốc quân từ căn cứ Thiệu Hoá về tỉnh, điều động lực lượng giao thông công chính tu sửa đường từ Rừng Thông về Thành phố, vận chuyển 30 khẩu súng thu được của bảo an binh lên Ngô Xá bàn giao cho Cứu quốc quân… Bộ phận hậu cần do các chị Nguyễn Thị Trâm, Bích Thuỷ, chị Sự, chị Sáu… đảm nhiệm việc đặt mua lương thực, thực phẩm, mượn nồi chảo, xanh loại lớn, bát đũa…, huy động người nấu bếp, chuẩn bị để đón Cứu quốc quân…
Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 23-8-1945, đoàn Cứu quốc quân đầu trần chân đất, bắp chân quấn xà cạp, vai đeo mã tấu, mác lào, đội ngũ chỉnh tề… từ làng Ngô Xá, Thiệu Hoá xuống Rừng Thông đi bộ chừng 11 km, theo đường dốc Ga tiến về Quảng trường bến xe ô tô Thành phố (khu ngã 5 trước trụ sở Ủy ban nhân dân  Tỉnh hiện nay). Tự vệ và nhân dân các huyện Quảng Xương, thị trấn Sầm Sơn kéo lên; Nông Cống cùng ra; Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hoá kéo sang… Dòng người đổ về Thành phố chật cứng cả quảng trường, lắng nghe Chủ tịch Lê Tất Đắc đọc “lời tuyên ngôn của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hoá”.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Thành phố trước hết là do có đường lối, chủ trương đúng đắn và sáng suốt của Trung ương Đảng, sự vận dụng kịp thời, sáng tạo của Tỉnh uỷ Thanh Hoá, sự chỉ đạo cương quyết, nhạy bén của Uỷ ban khởi nghĩa Thành phố và sự đóng góp to lớn của nhân dân Thành phố. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thành phố được cao trào cách mạng trong Tỉnh và cả nước hỗ trợ tích cực, đã giành thắng lợi hoàn toàn.
          Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, sau 15 năm dưới ánh sáng cách mạng của Đảng, nhân dân Thành phố đã cùng với nhân dân trong tỉnh, trải qua nhiều phong trào đấu tranh, tập trung sức xây dựng cơ sở cách mạng, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đấu tranh gian khổ và ác liệt, đã vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trên địa bàn. Cách mạng thành công, nhân dân Thành phố thoát khỏi ách nô lệ của thực dân phong kiến, trở thành người làm chủ quê hương. Đó là cơ sở, nguồn động lực mạnh mẽ và quý báu để nhân dân Thành phố, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng bước vào một thời kỳ mới, ngày càng phát triển cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng Tỉnh Thanh Hóa và cả nước.


Theo Lịch sử Thanh Hoá, Tập V, trang 15.
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb Sự thật, Hà Nội 1975. Trang 62.
Nguyễn Văn Đắc (1909- 1930) quê gốc tỉnh Hưng Yên. Năm 1917 mẹ đưa anh vào Thanh Hoá theo học Trường Tiểu học Đông Sơn, thêm hai năm trung học, năm 16 tuổi ra làm trợ giáo trường Dụ Côn, trường Hoà Chúng (Quảng Xương). Năm 18 tuổi anh được chọn đi huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc) với bí danh Cao Hoài Nghĩa. Tại lớp học và sau khi về nước hoạt động cách mạng anh có các bí danh khác là Nguyễn An, Trần Nhu. Anh học cùng một lớp huấn luyện với Trần Phú, học xong, anh được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, được phân công sang Thái Lan vận động cách mạng trong Việt kiều, sau đó về nước hoạt động tại Thị Cầu (Bắc Ninh). Năm 1928, anh bị địch bắt, bị chúng tra tấn dã man và kết án 3 năm tù, đày đi Côn Đảo. Anh hy sinh tại Côn Đảo ngày 27-12-1930. Năm 1958, Chính phủ truy tặng bằng Tổ quốc ghi công Liệt sĩ Nguyễn Văn Đắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Riêng Nguyễn Văn Khang chưa tìm được tiểu sử.
Chuyến thứ hai đi vào tháng 9-1926. Chuyến thứ ba đi vào cuối năm 1926.
Cụ Nam - tức Trần Thị Nam, tên khai sinh là Tạ Thị Tý (1876- 1966) quê thôn Đông Cầu, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tháng 2-1927, sau khi anh Đắc con trai cụ Nam xuất dương sang Quảng Châu, Cụ được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Cụ là người giữ mối liên lạc từ Tổng bộ đến Kỳ bộ, Tỉnh bộ và sau này là Trung ương đến Xứ uỷ. Có thời gian Cụ tham gia bảo vệ sự hoạt động của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Cụ đã đi thăm tù chính trị ở khắp các nhà tù từ Bắc vào Nam để nối liên lạc. Cụ đã nhiều lần bị địch bắt giam. Cụ được triệu tập dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào, lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Cụ là Uỷ viên Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh, phụ trách cứu tế xã hội, Hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ, Hội trưởng đầu tiên của Tỉnh Hội liên hiệp phụ nữ Thanh Hoá. Năm 1996, Cụ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Sinh thời Cụ ở nhà số 33 Trần Phú, xóm 4 khu phố 4 (nay là phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá). Mộ phần Cụ đặt tại Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng.
Phạm Đức Bân, một thầy giáo nghèo, giàu lòng yêu nước, con ông Thủ từ đền bên cạnh dinh Bang tá ở phố Cửa Tả.
Dẫn theo: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 1930 – 1954, tr.59
Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh – 1917 -1948) sinh ngày 28-7-1917 tại làng Thượng Thạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, là con ông Nguyễn Xuân Tuyển và bà Phạm Thị Nhạ. Theo gia đình về phường Đệ Ngũ Thành phố Thanh Hoá, năm 1931 là học sinh lớp Đệ nhất niên trung học Thanh Hoá.
Bùi Kính Thăng, sinh 13-8-1918 tại làng Diên Hy, tổng Đa Lộc, huyện Yên Định; năm 1933 vào học lớp Đệ nhất trung học Thanh Hoá.
Nguyễn Đắc Giới (Thôi Hữu 1914- 1954) quê làng phú Thọ tổng Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá, học trung học Thanh Hoá từ năm 1934.
Báo Trung Bắc Tân văn, số 5631, ngày 31-1-1936.
Sách Những sự kiện lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá (1925-1945), 1978, tr.72, 73.
5 vị dân biểu do Mặt trận giới thiệu đã trúng cử là: Hoàng Văn Khải (Thiệu Hoá), Nguyễn Đan Quế (Vĩnh Lộc), Lê Mậu Biên và Nguyễn Duy Cừ (Hoằng Hóa), Lê Khắc Đông (Tĩnh Gia) - có tài liệu ghi là Lê Nguyên Phong).
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB CTQG, H,2000, T.7, tr.58
Ở thị trường, 27 quan 1 tạ thóc, nạp cho Nhật chỉ trả 7 quan 1 tạ. Quan là 100 đồng tiền, 1 đồng bạc Đông Dương đổi 60 đồng tiền đồng.
Trước năm 1945 người Pháp bắt học sinh Việt Nam phải công nhận nước Pháp là mẫu quốc.
Xitaspo là viết tắt 2 chữ Pháp Citadelle sport, nghĩa là Hội thể thao tỉnh Thanh Hoácó trụ sở đặt trong thành tỉnh.
Nhật dùng chức Tỉnh trưởng, Huyện trưởng thay thế cho chức tổng đốc, tri phủ, tri huyện.
Đảng Cộng  sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.370.
Đảng Cộng  sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.370.
. Báo Cờ Giải phóng số 14 (28-6-1945) kêu gọi "không nộp thóc cho Nhật, không bán thóc cho các nhà thầu của Nhật; giàu nghèo đoàn kết chống lính Nhật thu "thóc tạ"; phá các kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo: tiến lên đuổi Nhật ra khỏi nước. Chỉ bằng những cách ấy, chúng ta mới khỏi chết đói mà thôi. Dẫn theo: Ngọn cờ Giải phóng, NXB Sự Thật, H, 1974, tr.89.
Đồng chí Nguyễn Đình Thực cùng gia đình đang chuẩn bị đón đồng chí Tố Hữu, Trương Văn Lĩnh và một đồng chí Nam Bộ ra Bắc bắt liên lạc thì bị địch bắt.
Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá (1925-1945) trang 225.
Bà Trần Thị Nam, cơ sở cách mạng của Trung ương Đảng  Lò Chum - Thanh Hóa được mời về Tân Trào dự Đại hội Quốc dân ngày 16-8-1945.
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.3, tr.553-554
Khu vực trường Trung học phổ thông chuyên Lam Sơn hiện nay.
Ngã tư Bưu điện hiện nay.
Ngã tư Nhà hát Lam Sơn vào đường Hạc Thành đến trạm công tác trên tầu hỏa hiện nay. 

CHƯƠNG II:TỪ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐẾN TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945

Đăng lúc: 04/11/2014 16:12:12 (GMT+7)

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

 I. HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ CÁCH MẠNG
1. Khái quát tình hình Thành phố cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm ba nước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào), thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, đặt Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là đất bảo hộ không có vua, Trung Kỳ là đất bảo hộ có vua, Lào và Cao Miên cũng vậy; nhưng trong thực tế đều do thực dân Pháp thống trị. Chúng quy định cả 3 xứ hợp lại thành Liên bang Đông Dương do Toàn quyền Đông Dương thay mặt Chính phủ Pháp cai quản, Nam Kỳ có Thống đốc, Bắc Kỳ có Thống sứ, Trung kỳ có Khâm sứ, các tỉnh có Công sứ chủ tỉnh. Tất cả những chức vụ đó đều do người Pháp đảm nhiệm. Bộ máy vua, quan Nam triều tại Huế chỉ là bộ máy thừa hành của Pháp.
Về kinh tế, thực dân Pháp ra sức đẩy mạnh khai thác thuộc địa, vơ vét nguyên liệu Việt Nam (và cả hai xứ Cao Miên, Lào) đem về chính quốc phát triển công nghiệp.
Thời thuộc Pháp (1885-1945) với chính sách triệt để khai thác thuộc địa làm giàu cho chính quốc thì phần “thị” của tỉnh lỵ Thanh Hóa có bước chuyển biến mới. Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã (1901-1905), tuyến đường sắt Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh được nối liền (1905). Hệ thống nông giang vừa cấp nước cho đồng ruộng, vừa tận dụng vận chuyển nông lâm, thổ sản về tập kết tại kho ba-ti (Petit dépôt), kề nhà Ga Thanh Hóa. Tư bản Pháp chú ý mở một số nhà máy chế biến nông sản, hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt của tầng lớp trên như: nhà máy rượu, nhà máy đèn, nhà máy nước, nhà máy diêm… Nhà máy Diêm Hàm Rồng (1905), khách sạn Reynaud (Rây-nô)… đều là những cơ sở kinh doanh phục vụ của các công ty cổ phần tư bản Pháp.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, không phải chỉ có riêng tư bản Pháp hoạt động kinh tế, mà còn có cả tư sản Hoa kiều, Ấn kiều hoạt động thương nghiệp tại Thành phố. Một số hiệu buôn lớn của người Hoa như Tân Thành Vinh, Phúc Hưng, Nhân Hòa Đường, Cẩm Chân, Lưỡng Long… chuyên buôn bán các mặt hàng bách hóa; còn một số cửa hàng của người Ấn chuyên buôn vải như Môhamed Ít-sup, Halipha… Tư sản người Việt cũng ráo riết bỏ vốn hoạt động trong các ngành công thương, như: Nam Đồng Ích công thương Hội (1-12-1928) chuyên sản xuất rượu và kinh doanh hàng nội địa các thứ gỗ quý đặc sản của miền Trung. Gốm Đức Thọ (Lò Chum) là một cơ sở được xếp vào loại lớn ở Đông Dương, sản phẩm được bán cả trong Nam ngoài Bắc. Nghề sản xuất bánh kẹo nổi tiếng là hiệu Tiến Lợi. Ngành chụp ảnh có các hiệu Nguyễn Khắc Khoan, Mỹ Hữu Đào. Kinh doanh ngành ăn uống có khách sạn Hoàng Đức Trường, Nam Hải. Kinh doanh nghề vận tải ôtô chạy các tuyến đường trong tỉnh và cho thuê chuyến như hãng Nguyễn Văn Quy. Kinh doanh vàng bạc có hiệu Thuận Xương. Hiệu cầm đồ lớn nhất có Chu Bảo Đỉnh. Kinh doanh vải sợi có Thành Phát, Tinh Hoa. Hiệu thuốc bắc có Thắng Long, nhà thuốc tân dược có Phan Văn Giáo.
Tuy nhiên, hầu hết các ngành kinh doanh nhỏ hẹp do tư sản bản xứ tiến hành đều bị tư bản nước ngoài, nhất là tư bản Pháp chèn ép triệt để.
Về văn hóa xã hội, chỉ có con em các tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản được hưởng quyền học tập, có cuộc sống sung túc giàu sang, còn tuyệt đại đa số nhân dân sống trong cảnh dốt nát, đói cơm, thiếu thuốc, mù chữ…
Mặc dù vậy, vào thời điểm này tại thành phố Thanh Hóa đã có hai trường tiểu học: Trường tiểu học Pháp – Việt Thanh Hóa và trường tiểu học Đông Sơn. Mỗi trường đều có đủ 6 lớp từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất, hồi bấy giờ nhiều trường ở các phủ và huyện chỉ có đến lớp sơ đẳng (lớp 3), chỉ có một số trường có đến lớp nhất. Học sinh thi tốt nghiệp tiểu học buộc phải về thi ở trường Tỉnh.
Với chính sách khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, một giai cấp mới đã ra đời là giai cấp công nhân (còn gọi Thợ áo xanh). Họ bán sức lao động trong các xưởng máy, hầm mỏ, đồn điền của tư bản Pháp. Hàng ngày quần quật lao động từ 12 -14 tiếng đồng hồ, họ bị vắt kiệt sức lực, nhưng với đồng lương rẻ mạt, không đủ sức tái tạo sức lao động. Không những thế họ còn bị đánh đập, cúp phạt, đe dọa sa thải và tai nạn lao động thường xuyên. Là đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, mặc dù số lượng còn ít, nhưng đã trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam khi có Đảng Cộng sản là Bộ tham mưu.
Thời kỳ này ở Thành phố Thanh Hóa chưa có nhiều thợ áo xanh, mà phần lớn là thợ áo nâu (những nông dân thoát ly đồng ruộng sau vụ cấy gặt). Họ cũng bán sức lao động từ sáng sớm tinh mơ đến tối khuya mới được về.
Dù là thợ áo xanh hay thợ áo nâu, họ đều có mâu thuẫn sâu sắc về quyền lợi chính trị – kinh tế với tư bản Pháp và tư sản bản xứ và với giai cấp địa chủ, phong kiến quan lại.
Giai cấp tư sản bản xứ ra đời sau giai cấp công nhân, vừa nhỏ bé lại bị chèn ép về mọi mặt, nên có mâu thuẫn về quyền lợi với đế quốc phong kiến. Bên cạnh đó giai cấp tư sản bản xứ chiếm hữu tư liệu sản xuất, bóc lột công nhân, nông dân nên còn có mâu thuẫn với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tầng lớp tư sản ở thành phố Thanh Hóa không nhiều, vốn liếng ít ỏi, số lượng công nhân thuê mướn ít, nhưng hoạt động ở nhiều lĩnh vực như: thương nghiệp, dịch vụ, vận tải, sản xuất, trong số đó có các nhà tư sản ở Lò Chum xuất thân từ người thợ cả giỏi nghề, tích lũy được vốn, mở một, hai lò nung nên gắn bó với thợ bạn, thợ học việc.
Tầng lớp tiểu tư sản Thành phố là những người thợ thủ công, tiểu thương buôn bán vặt, vốn ít hoặc không có vốn nên phải nhận làm đại lý bán hàng cho tư sản Pháp để hưởng hoa hồng, hoặc là các viên chức công sở, tư sở… Nhìn chung tầng lớp này có mức sống thấp, đời sống bấp bênh và luôn luôn bị đe dọa phá sản thất nghiệp. Giáo viên và học sinh cũng được xem là tầng lớp tiểu tư sản. Trong điều kiện giảng dạy và học tập bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, họ có điều kiện thuận lợi để tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại và chính họ giữ vai trò tuyên truyền, giác ngộ vận động cách mạng trong quần chúng lao động, là ngòi nổ cho phong trào cách mạng ở Thành phố, là đồng minh của giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo cách mạng vô sản ở Việt Nam.
Tại Thành phố, còn có những hộ kinh doanh công thương nghiệp dư vốn, đã bỏ tiền tậu ruộng ở nông thôn cho phát canh thu tô. Họ là những công thương gia kiêm địa chủ. Cũng có những địa chủ có ruộng đất phát canh thu tô, nhưng phần nhiều là địa chủ nhỏ.
Giai cấp nông dân có ít đất canh tác hoặc nhận cày ruộng rẽ cho địa chủ, cho nhà chùa, nhà thờ, cho những người có ruộng mà không canh tác được…, phải lao động dịch vụ, phục vụ, làm thuê dưới mọi hình thức để sinh sống. Với tình hình xã hội như trên, nhân dân Thành phố có điều kiện thuận lợi để tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng xã hội tiến bộ.
2. Những người yêu nước Thanh Hóa đến với con đường cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoà theo dòng chảy cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc, phong trào đấu tranh của nhân dân Thành phố Thanh Hóa diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú và quyết liệt.
Vụ chống thuế ở Trung Kỳ gắn liền với sự phát triển Đông kinh nghĩa thục ở ngoài Bắc (1908), trong cả hai phong trào đều có sự tham gia tích cực của các trí thức nho học trong tỉnh nên giới cựu học ở Thanh Hóa bị chính quyền thực dân – phong kiến khủng bố ác liệt, đàn áp dã man.
Không những thế, chúng còn câu kết với quân phiệt Nhật Bản trục xuất người Việt Nam yêu nước đang sinh sống trên đất Nhật. Tại Trung Quốc, năm 1912 Phan Bội Châu đã thành lập Việt Nam Quang phục hội với mục đích đấu tranh “thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam”. Tiếng súng của đạo quân Quang phục từ biên giới phía Bắc dội về trong nước (1914-1918), những tài liệu Chiêu hồn nước, Việt Nam hồn, Hải ngoại huyết thư… được chuyển về trong nước. Giới cựu học và tân học Thanh Hóa đọc các tài liệu trên lại hội tụ nhau lập nên các nhóm đi tìm đường hoạt động cách mạng mà phần lớn đều qua thành phố, trung tâm của cả tỉnh.
Từ năm 1923, Lê Hữu Lập - một thanh niên yêu nước, có chí khí đã được Đinh Chương Dương - một chí sĩ yêu nước giác ngộ và vào giữa năm 1924, anh được đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia tổ chức Tâm Tâm xã, đúng lúc tiếng bom Phạm Hồng Thái “nhóm lên ngọn lửa chiến đấu… Báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa Xuân”.
Tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – một tổ chức cách mạng theo tư tưởng chủ nghĩa Mác.
Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã mở những lớp huấn luyện chính trị. Lê Hữu Lập là một trong số những thanh niên ưu tú được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn và là người Thanh Hóa đầu tiên được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Cuối năm 1925, sau khi học xong Lê Hữu Lập được cử trở lại trong nước với hai nhiệm vụ: vận động thanh niên yêu nước sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện và tuyên truyền Đường Kách mệnh trong thanh niên, lựa chọn người tốt để tổ chức họ vào Hội.
Lê Hữu Lập về đến Thanh Hóa giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên, giáo viên và học sinh đang sôi động đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu mà chúng đã bắt vào cuối năm 1925 rồi bí mật đưa về nước giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). Đông đảo giáo viên, học sinh Thành phố và các vùng lân cận đẩy mạnh cuộc vận động lấy chữ ký gửi Toàn quyền, cũng nô nức kéo về Thành phố, để cùng với nhân dân biểu lộ tình cảm với nhà yêu nước khi thực dân Pháp giải Phan Bội Châu qua Thanh Hóa về giam lỏng ở Huế.
Ngày 25-3-1926, được tin nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua đời ở Sài Gòn, tầng lớp sĩ phu nho học do cử nhân Nguyễn Đan Quế đứng ra tổ chức lễ truy điệu cụ Phan tại nhà người anh ruột là Nguyễn Hoàng Hòe ở Đức Thọ (Lò Chum). Giáo viên, học sinh tân học cũng tổ chức lễ truy điệu để tang cụ Phan tại một địa điểm trong Thành phố.
Phong trào yêu nước lên mạnh, nhưng chưa có đường lối chính trị và tổ chức cách mạng rõ ràng. Lực lượng tham gia phong trào vừa tìm phương hướng vừa gây dựng tổ chức cách mạng. Lê Hữu Lập kịp hòa mình vào phong trào quần chúng, khẩn trương tiến hành những hoạt động tuyên truyền giác ngộ cho lớp thanh niên hăng hái trong phong trào đang lên ở địa phương, đem hạtgiống cách mạng vô sản gieo vào vườn ươm yêu nước đã được chuẩn bị. Qua đó Lê Hữu Lập đã tuyển lựa đưa Nguyễn Văn Đắc và Nguyễn Văn Khang (Thành phố Thanh Hóa) cùng một số thanh niên ưu tú khác ở Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Nông Cống,… sang Quảng Châu (Trung Quốc) trong chuyến đi đầu tiên ngày 14-7-1926, dự các lớp huấn luyện cán bộ do Nguyễn Ái Quốc mở.
Vốn là học sinh cũ của Trường Tiểu học Pháp - Việt, có nhiều bạn học, biết nhiều thầy giáo, quen nhiều học sinh đã thôi học, lại được Nguyễn Ái Quốc bồi dưỡng về mục đích, phương pháp vận động cách mạng, Lê Hữu Lập đã nhanh chóng tập hợp được lớp thanh niên trong giáo viên, học sinh và những thanh niên đã rời ghế nhà trường là lực lượng hăng hái hoạt động nhất lúc bấy giờ. Nếu như phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (11-1925), hoặc phong trào tổ chức lễ tang cụ Phan Châu Trinh (24-3-1926) và giỗ đầu Cụ  Phan (24-3-1927) tại Thị xã là do nhân sĩ cựu học khởi xướng có xin phép nhà cầm quyền, có sự tham gia của giáo viên, thanh niên học sinh, thì những phong trào tiếp sau đó do lực lượng giáo viên, thanh niên học sinh hai trường Tiểu học: Pháp – Việt thành phố và Đông Sơn chủ động tổ chức, nhờ đó đã được tiếp thu nội dung phương hướng của Đường Kách mệnh mà Lê Hữu Lập đã học ở Quảng Châu truyền đạt lại, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Thành phố.
Hoạt động tuyên truyền giác ngộ lúc này không chỉ dừng ở các cuộc gặp nói chuyện riêng lẻ với từng người, từng nhóm, mà nhằm tuyên truyền có chiều sâu và tập dượt về mặt tổ chức, Lê Hữu Lập đã lập ra Hội đọc sách báo cách mạng (5-1926) tại số nhà 26 phố Thợ Thêu, Thành phố Thanh Hóa, gồm 10 người, gọi là “Thập nhân chi hội” do Lê Công Thanh, người Thiệu Hóa, là giáo viên chủ trì.
Hội viên của Chi hội này hầu hết là các thầy giáo. Chi hội thứ hai ở quán cơm Cụ Nam số nhà 13 phố Hàng Đồng (Boulevard Francis Garnier), trong đó có Phạm Đức Bân và một số giáo viên trường Tiểu học tham gia.
Thông qua Hội đọc sách báo cách mạng, Lê Hữu Lập đã tổ chức các cuộc nói chuyện, bàn bạc về thời cuộc. Những kiến thức được truyền thụ đơn giản nhưng sâu sắc, như “Cách mạng là phá cái cũ đổi ra cái mới; phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Khi nói về tôn chỉ, mục đích của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thì “trước làm cách mạng quốc gia để đánh đuổi đế quốc Pháp giành độc lập cho Tổ quốc, sau làm cách mạng thế giới, đánh đổ chủ nghĩa tư bản, thực hiện chủ nghĩa Cộng sản…”. Bài Quốc tế ca do Nguyễn Ái Quốc dịch ra theo thể lục bát cũng đã có nhiều người thuộc lòng.
Những giáo viên trường làng sinh hoạt Hội đọc sách báo cách mạng ở Thành phố trở thành cốt cán nhân rộng tổ chức, phát triển ra hai tổng Kim Ốc, Tuyên Hóa huyện Đông Sơn, rồi đến các huyện Hậu Lộc, Thiệu Hóa, Nông Cống, Thọ Xuân.
Đầu năm 1927, Tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thành phố được thành lập gồm bà Trần Thị Nam, thầy giáo Phạm Đức Bân, thầy giáo Cù Khắc Minh và một số thầy giáo khác dạy ở trường Tiểu học Đông Sơn. Trên cơ sở đó, thầy Phạm Đức Bân phát triển ở mỗi lớp Nhất một Tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tiểu tổ lớp nhất B có: Vũ Đình Thiệp, Nguyễn Văn Hợi, Nguyễn Văn Cát, Lê Trọng Tân, Lê Tử Bình, Trương Khâm, Hoàng Văn Chính; trường tiểu học Đông Sơn cũng có một tiểu tổ.
Việc làm đầu tiên của các tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là bỏ truyền đơn (được in thạch) đưa từ Quảng Châu về vào hộc bàn, để khi học sinh vào lớp thì nhận được. Nội dung là một bài tuyên truyền cách mạng theo điệu hát, nói lên cảnh lầm than nô lệ và động viên nhau đứng lên làm cách mạng, đánh đổ cường quyền áp bức giành lại độc lập tự do.
Tiếp theo, họ tổ chức vạch mặt tên Tây quay số chơi trò bạc bịp, để moi tiền nhân dân một cách bất chính. Cả ba Tiểu tổ học sinh Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở hai trường đã thống nhất hành động trị tên Tây quay số làm cho cả tên chủ lẫn người làm công đều phải bỏ chạy. Lính Cẩm đến can thiệp, đã bắt một thợ thủ công đi ngang qua đem về Sở Cẩm.
Sáng hôm sau, học sinh đi học nghe tin như vậy đã hàng ngũ chỉnh tề kéo đến Sở Cẩm phản đối việc bắt người vô cớ và đòi thả. Nhân dân hoan nghênh việc làm của học sinh. Ông Lương Tư Hiếu, một thầy giáo dạy chữ Hán nổi tiếng chống chính quyền trước đó đã bị đổi lên châu Ngọc Lặc, nghe tin học sinh đấu tranh, đã về Thành phố đứng chờ ở cửa lớp, đến giờ tan học ông bắt tay một lượt các học sinh lớp nhất A và tỏ lời khen ngợi: “Các trò khá lắm”.
Gần ngày giỗ đầu cụ Phan Chu Trinh, cả 3 lớp Nhất cử 3 người lên Tòa sứ xin phép và mời cùng dự với giáo giới và công chức, nhưng Công sứ không cho. Cả 3 tiểu tổ đã quy ước “đúng ngày giỗ 24-3-1927 đều mặc áo dài trắng đi học”. Chủ nhật ngày 27 - 3-1927, học sinh 3 lớp Nhất của hai trường kéo nhau lên Núi Mật dự giỗ đầu cụ Phan. Một tên lính lệ mặc giả thường dân đi theo dò xét, đã bị phát hiện và giữ lại một nơi để cảnh cáo, đến khi tan cuộc mới thả về.
Hai cuộc đấu tranh thắng lợi do các tiểu tổ học sinh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tiến hành đã gây nên sự tức tối cho nhà cầm quyền. Chúng quyết định đuổi 10 học sinh trường Tiểu học Thành phố và 1 học sinh trường Tiểu học Đông Sơn, không cho thi tốt nghiệp, không cho tiếp tục học ở trường khác, trong số đó có Nguyễn Đình Thực và Nguyễn Văn Hợi. Còn gần 200 học sinh lớp nhất dự thi tốt nghiệp, chúng chỉ cho đỗ 50 người. Hết năm học, chúng điều động thầy Bân vào Quảng Trị, chuyển đổi một số thầy giáo khác có tư tưởng cách mạng đi các trường xa thành phố. Buổi tiễn đưa thầy Bân tại sân ga Thanh Hóa thật xúc động. Một bó hoa tươi có lời thơ “Vẫn nước non này” viết trên băng đỏ tặng thầy là một lời thề sắt son cách mạng của học sinh Thành phố Thanh Hóa.
Hai cuộc đấu tranh đó như tiếng chuông báo hiệu cần phải có một tổ chức thống nhất, một sự chỉ đạo khôn khéo để một mặt vừa đạt hiệu quả cao, mặt khác vẫn bảo toàn lực lượng quần chúng.
Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát triển ngày càng rộng, nhu cầu thông tin nội bộ tăng lên. Một vấn đề đặt ra là làm sao vẫn giữ được bí mật, che mắt được chính quyền thực dân phong kiến. Lê Hữu Lập bàn với Mai Xuân Diễn thuê ngôi nhà số 26 Hàng Than, bố trí bên ngoài là cửa hàng bán nước mắm, bên trong là nơi liên lạc hội họp, đón tiếp các đồng chí từ các huyện lên, từ tỉnh ngoài đến,… xem như đó là sự giao lưu giữa các bạn hàng.
Cũng tại ngôi nhà này, tháng 4-1927 đã mở Hội nghị đại biểu của 11 tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Thành phố và các phủ, huyện, quyết định thành lập Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Hội nghị cử Ban Chấp hành Tỉnh bộ lâm thời gồm 3 ủy viên, do Lê Hữu Lập làm Bí thư.
Để nâng cao trình độ giác ngộ cho hội viên, tổ chức hội đã tìm mọi cách để mở các lớp huấn luyện chính trị. Tháng 6-1927, Hoàng Khắc Trung được cử đi huấn luyện ở Quảng Châu trở về, anh đem về nước cuốn sách Đường Kách mệnh do Nguyễn Ái Quốc biên soạn từ các bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị và đăng ở báo Thanh niên. Đó là tài liệu chính để huấn luyện hội viên tại lớp học. Hai anh được huấn luyện ở Quảng châu về trở thành giảng viên. Mỗi lớp học không quá 10 người, dưới danh nghĩa học thêm về văn hóa, hay luận bàn công việc làm ăn, buôn bán. Có lớp mở trong nội thành, có lớp mở ở Hàm Rồng, ở chùa Mật Sơn. Với nội dung cô đọng nhưng sâu sắc, các bài giảng đã gợi mở cho người học con đường phải đi, công việc phải làm, phương pháp hành động và đặc biệt là tu dưỡng tư cách người cách mạng. Những lớp học đó góp phần đào tạo khá đông cốt cán cho phong trào và tổ chức ở các huyện.
Cũng trong thời gian ấy, Tổng bộ Thanh niên Quảng Châu đưa tin về Tưởng Giới Thạch đã phản bội chính sách “Thân Nga, liên Cộng” của Tôn Trung Sơn, chống lại Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một số cán bộ Việt Nam hoạt động cách mạng ở Quảng Châu bị bắt. Do đó, Tổng bộ chủ trương rải truyền đơn kêu gọi Hoa kiều ủng hộ cách mạng Việt Nam và cùng đấu tranh đòi Tưởng Giới Thạch phải thả hết những người Việt Nam bị bắt. Tháng 7-1927, truyền đơn đã được rải vào tất cả các nhà Hoa kiều ở thành phố và các thị trấn huyện có đông Hoa kiều.
Cuối năm 1927, Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ chủ trương lập một cơ quan công khai vừa làm kinh tài cho Hội, vừa làm nơi liên lạc và hoạt động của Hội. Lê Hữu Lập ra Hà Nội gặp nhà tư sản dân tộc Đào Thao Côn để xem xét hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã, một tổ chức thương nghiệp tích cực thúc đẩy việc chấn hưng hàng nội hóa. Khi về bàn bạc tỉnh bộ nhận thấy hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã có lợi, vì vừa thể hiện được tinh thần dân tộc, lại vừa có thể làm kinh tài cho Hội nên đồng ý tổ chức.
Phong trào công chức dùng vải nội hóa may âu phục được phát triển có tác dụng thúc đẩy hoạt động của Hưng Nghiệp hội xã. Nhờ vậy việc phát triển hội viên và kêu gọi đóng góp cổ phần rất thuận lợi. Chỉ trong vài tháng đã có đến 300 cổ phần và lập tiểu chi điếm ở một số huyện. Người chủ trì Hưng Nghiệp hội xã ở Thanh Hóa là Mai Xuân Diễn. Bà Trần Thị Nam được giao nhiệm vụ thư ký giúp việc và đi giao thông. Trụ sở Hưng Nghiệp hội xã ở 18 phố Lớn (nay là đoạn phố Trần Phú từ Đại lộ Lê Lợi đến đường Nguyễn Trãi). Cơ quan Tỉnh bộ cũng chuyển từ Hàng Than sang phố Lớn (Grand’ Rue). Thông qua Hưng Nghiệp hội xã, việc tuyên truyền tôn chỉ mục đích và phạm vi hoạt động của hội có địa bàn rộng lớn hơn.
Trước đó, trong học sinh còn có phong trào nói tiếng Pháp xen lẫn tiếng Việt nhằm chống lại quy định cấm nói tiếng Việt trong trường của hai Hiệu trưởng trường tiểu học thành phố và Đông Sơn.
Tháng 4-1928, thi hành chỉ thị của Kỳ bộ thanh niên Trung Kỳ, Hội nghị đại biểu Thanh niên Thanh Hóa gồm 9 huyện và Thành phố được tổ chức tại chùa Quan Thánh – Núi Nhồi đã bầu Ban Chấp hành chính thức, do Lê Hữu Lập làm Bí thư.
Vào giữa năm 1929, chủ trương giải tán Thanh niên của Kỳ bộ Bắc kỳ được truyền đạt đến Thanh Hóa. Hội nghị Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Thanh Hóa do Hoàng Khắc Trung chủ trì (Lê Hữu Lập lúc đó đã được điều động sang công tác ở Thái Lan) thảo luận và thống nhất chủ trương giải tán Thanh niên để lập Đảng Cộng sản, rồi phân công nhau đi “vô sản hóa”. Công việc chưa thành thì tổ chức bị vỡ lở, một số đồng chí bị địch bắt giam như: Trịnh Huy Quang, Nguyễn Năng Độ, Cù Khắc Minh, Nguyễn Mậu Sung, Nguyễn Công Thu…
Ngày 14-7-1925, Hội Phục Việt được thành lập ở Thành phố Vinh. Tổng bộ Phục Việt cử người ra Thanh Hóa phát triển hội viên, xây dựng cơ sở Hội. Cử nhân Nguyễn Đan Quế, cử nhân Hoàng Văn Khải và một vài ông tú, ông cử khác được kết nạp vào Hội lớp đầu tiên.
Đầu năm 1927, Hội phục Việt Thanh Hóa phát triển hội viên mới vào lớp tân học và người có cơ sở buôn bán, có nghề nghiệp, trong số đó có Nguyễn Xuân Thúy, Nguyễn Văn Hồ (Thọ Xuân), Lê Liên Vũ, Nguyễn Văn Ninh, Lê Thị Ngọ (Lò Chum), Lê Tất Đắc thư ký nhà ga, Nguyễn Thị Nghiên nữ hộ sinh… và một số người khác lập thành Đại tổ ở Thị xã. Phục Việt cũng thành lập Học sinh Đoàn để hoạt động. Nguyễn Đình Thực là một trong những học sinh đầu tiên tham gia học sinh Đoàn Phục Việt.
Sự phân hóa trong Tổng bộ Tân Việt cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức Tân Việt ở Thanh Hóa. Với hình thức tổ chức từ Tiểu tổ lên Đại tổ. Buổi đầu Tỉnh bộ đặt ở Ngô Xá (Thiệu Hóa) sau dời về Lò Chum. Sau ngày kết nạp, Nguyễn Xuân Thúy và Nguyễn Văn Hồ vào Vinh dự lớp huấn luyện trong thời gian 6 tháng, lớp do Tổng bộ Phục Việt mở. Trở về Thanh Hóa, trong Hội nghị củng cố Đảng bộ tại Lò Chum vào giữa năm 1927, Nguyễn Xuân Thúy được bầu làm Bí thư Tỉnh bộ Tân Việt. Từ đây Tân Việt hoạt động theo Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, tạo ra một bước ngoặt mới căn bản về tổ chức.
Nhận rõ sự cần thiết phải tuyên truyền, huấn luyện hội viên chu đáo mới mong tạo chuyển biến trong nhận thức, mới có hành động đúng, Hội nghị Tỉnh bộ vào tháng 12-1928 đã phân công Nguyễn Xuân Thúy trực tiếp tổ chức các lớp huấn luyện, giao nhiệm vụ Bí thư cho Lê Liên Vũ, các lớp huấn luyện được mở liên tục vào buổi tối, luân phiên đổi địa điểm từ nhà ông đồ Nghếch (thân phụ Lê Liên Giao, Lê Liên Vũ) sang bà Khang (mẹ vợ các ông Lê Liên Vũ và Nguyễn Đình Thực - cháu ruột cử nhân Nguyễn Đan Quế), ông Nguyễn Văn Ninh (bố vợ Trần Quang Huy). Nội dung huấn luyện theo Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, hình thức là lớp học thêm về văn hóa, là buổi luận bàn về giao lưu buôn bán.
Cuối năm 1928, Lê Liên Vũ cùng đi với Phan Đăng Lưu sang Quảng Châu để bàn việc thống nhất Tân Việt vào Thanh niên, nhưng sự việc không thành. Thời gian đó Nguyễn Văn Hồ đảm nhiệm Bí thư.
Từ giữa năm 1929, trụ sở Tỉnh bộ Tân Việt chuyển lên phố Thợ Thêu. Tại đây Nguyễn Văn Ninh cùng với Nguyễn Văn Hồ mở hiệu sửa chữa xe đạp Dụ An làm nơi liên lạc với cơ sở cách mạng ở các huyện và liên tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh. Đầu tháng 8-1929, cửa hiệu Dụ An bị đóng cửa, Nguyễn Văn Hồ, Lê Văn Phước, Nguyễn Văn Ninh, Lê Liên Vũ, Nguyễn Sĩ Khánh đều là đảng viên Tân Việt bị địch bắt giam.
Một số cốt cán của hai tổ chức Thanh niên, Tân Việt bị bắt giam. Những người còn lại của hai tổ chức trên chưa bị lộ đã tổ chức một phong trào quyên góp quà bánh, thức ăn, quần áo để ủng hộ anh em tù chính trị bị giam ở Nhà lao Thanh Hóa. Đầu năm 1930, nhà cầm quyền xét thấy không có đủ chứng cứ kết tội nên chúng phải thả tù chính trị, song chúng lại đối phó bằng cách đuổi về quản thúc tại quê quán.
Tháng 2 - 1929, ông Hoàng Văn Tùng một thầy giáo và là yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng Thanh Hóa đi công tác Hà Nội đã bị thực dân Pháp bắt giam và tra tấn rất dã man, rồi được trả về gia đình ở Thanh Hóa. Ông mất vào tháng 5-1929. Lễ tang thầy giáo Hoàng Văn Tùng được giáo viên, học sinh, công chức yêu nước ở Thành phố, mà nòng cốt là hội viên Thanh niên - Tân Việt tổ chức chu đáo, đã gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân. Sau đó, nhận thấy mối nguy hại từ các hoạt động phối hợp giữa các tổ chức và phong trào yêu nước, nên khi Thanh niên - Tân Việt bị vỡ, thực dân Pháp đã thẳng thay đàn áp dã man phong trào.
II. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG TIẾN TỚI KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
1. Thời kỳ 1930 - 1935
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cương lĩnh cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã đề ra đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối ở nước ta đầu thế kỷ XX. Từ đây, nhân dân Thành phố cũng như toàn thể nhân dân các dân tộc Việt Nam chiến đấu anh dũng dưới ngọn cờ của Đảng. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và tha thiết của nhân dân ta.
Ngay sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên đất nước ta đã dấy lên cao trào cách mạng 1930-1931, trên cơ sở đó đã hình thành nhiều tổ chức cộng sản.
Tháng 3-1930, Phân cục Trung ương lâm thời Trung Kỳ được thành lập, và ngay sau đó lập Tỉnh bộ Vinh (bao gồm Vinh-Bến Thủy, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Thành phố Thanh Hóa) do Lê Mao, Ủy viên Thường trực Phân cục phụ trách.
Trên cơ sở những chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hàm Hạ (Đông Sơn) tháng 6-1930, Phúc Lộc (Thiệu Hóa) và Yên trường (Thọ Xuân) tháng 7-1930, và sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, ngày 29-7-1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Tỉnh Thanh Hoá được thành lập. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình phát triển của phong trào cách mạng Tỉnh Thanh Hóa. “Từ đây phong trào cách mạng tỉnh nhà có Đảng lãnh đạo trực tiếp sẽ vững bước vượt qua thử thách hiểm nghèo, cùng nhân dân cả nước tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Ngay sau khi ra đời, Đảng bộ đã tích cực xây dựng cơ sở trong quần chúng và phát triển đảng viên; tích cực chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ,… Đến tháng 10-1930, toàn Đảng bộ có 5 chi bộ với tổng số 57 đảng viên.
Phát hiện ra cơ sở hoạt động của Đảng bộ, chính quyền thực dân mở chiến dịch truy lùng khủng bố. Nhiều đồng chí bị bắt, trong số đó có các Tỉnh uỷ viên. Cuối năm 1930, Đảng bộ chỉ còn lại 25 đảng viên hoạt động bí mật.
Trước tình hình Đảng bộ Đảng Cộng sản Thanh Hoá bị tổn thất nghiêm trọng, sau một thời gian nỗ lực khôi phục tổ chức và phong trào, dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ Trung Kỳ, ngày 10-1-1931, Hội nghị thành lập Tỉnh uỷ lâm thời đã được triệu tập tại Hồ Thượng (Tĩnh Gia). Hội nghị đã thảo luận và quán triệt tinh thần Án nghị quyết lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Xứ ủy Trung Kỳ về  công tác phát triển Đảng, các tổ chức quần chúng và phát động phong trào đấu tranh cách mạng,… Hội nghị đã cử ra Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ lâm thời gồm 5 ủy viên, do đồng chí Ngô Đức Mậu làm Bí thư.
Tháng 4-1931, Tỉnh uỷ lâm thời họp Hội nghị mở rộng quyết định phát động phong trào quần chúng công nhân, nông dân đấu tranh ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh, củng cố, kiện toàn các cơ sở Đảng và bộ máy lãnh đạo các cấp; tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm hưởng ứng Ngày Quốc tế lao động 1-5 tại Thành phố.
Ngày 1-5-1931, cờ đỏ búa liềm xuất hiện trên nóc nhà ga Thanh Hóa. Truyền đơn ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh xuất hiện ở nhiều nơi, ở nhà máy điện Hàm Rồng và nhiều địa phương khác trong tỉnh, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân và khiến nhà cầm quyền thực dân, phong kiến điên đầu.
Do những sơ hở trong hoạt động bí mật nên tháng 6-1931, nhiều cán bộ Tỉnh uỷ lâm thời lần lượt sa lưới địch. Nhiều người bị kết án tù, trong số đó có Ngô Đức Mậu, Lê Tất Đắc, Phạm Tiến Năng, Nguyễn Xuân Thuý, Lê Văn Thiệp… Những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ bị giam cầm trong lao vẫn giữ được liên hệ với bên ngoài để chỉ đạo phong trào cách mạng.
Tại Thành phố, tháng 9-1931 Nguyễn Văn Huời, đảng viên cũ của Tân Việt, vốn là công nhân xưởng diêm Hàm Rồng vào làm ở Nhà máy xe lửa Trường Thi – Vinh rồi tham gia Đảng Cộng sản ở đó, đã trở về làm việc tại Nhà máy diêm Hàm Rồng, đã dựa vào những người yêu nước mà nòng cốt là Tiểu tổ Tân Việt cũ để tuyên truyền vận động giác ngộ công nhân trong nhà máy thành lập Công hội Đỏ, rồi tổ chức một cuộc rải truyền đơn để kỷ niệm một năm Xô viết Nghệ Tĩnh (12-9-1930 – 12-9-1931) kêu gọi công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, đánh đập. Trên mỗi tờ truyền đơn đều có in hình búa liềm. Cuộc rải truyền đơn này đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân trong tỉnh.
Liền theo đó, Công hội Đỏ tổ chức cuộc đình công lớn vào tháng 11-1931 từ bộ phận nữ công nhân chấm thuốc, vào bao, họ là những người có tiền công rẻ mạt nhất, cuộc đấu tranh nhanh chóng lan ra toàn Nhà máy, nêu cao các khẩu hiệu phản đối đánh đập, cúp phạt, chủ nhà máy phải nhận tăng tiền công cho công nhân nữ và trẻ em từ 2 xu lên 3 xu một thẻ khoán.
Tháng 9-1931, nhà cầm quyền thực dân bắt đầu mở lớp Đệ nhất niên trung học tại Thanh Hoá, không phải chỉ vì nhu cầu học lên của học sinh mà nhằm tách khỏi sự liên kết đấu tranh của học sinh Quốc học Vinh với Thành phố Thanh Hoá.
Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp khốc liệt. Nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.
Năm 1932, Trung ương Đảng vạch Chương trình hành động nhằm tổ chức các hội biến tướng hoạt động công khai hợp pháp để che mắt địch, làm lá chắn cho các hoạt động bí mật của Đảng.
Tháng 2-1932, Hội nghị đại biểu của 7 cơ sở cách mạng trong tỉnh họp tại Yên Lộ (Thiệu Hoá) đề ra chủ trương dựa trên cơ sở Nông hội Đỏ để thành lập Hội tương trợ sản xuất và tổ chức đời sống, qua đó Đảng có cơ sở để tuyên truyền giác ngộ họ. Tháng 8-1932, Hội nghị đại biểu các cơ sở Đảng ở Ngọc Vực (Yên Định) đã nhấn mạnh trong khi chú ý xây dựng cơ sở cách mạng ở nông thôn thì không được xem nhẹ việc xây dựng cơ sở cách mạng ở thành thị, đồn điền, nhà máy. Tuy nhiên, đến cuối năm 1933 phong trào cách mạng ở thành thị, xí nghiệp, đồn điền vẫn chậm phát triển và không đồng đều.
Đầu năm 1934, đồng chí Nguyễn Tạo thoát khỏi nhà tù Hoả Lò – Hà Nội về Thanh Hoá bắt liên lạc với các đảng viên cũ, xây dựng được một số cơ sở cách mạng mới ở Hải Mao (Thọ Xuân), Thành phố và Hàm Rồng. Đồng chí Tạo giao cho bà Trần Thị Nam làm nhiệm vụ giao thông nối liền Thanh Hoá - Hà Nội. Các chuyến đi của bà Nam đều bắt đầu từ ga Hàm Rồng do trưởng ga Phạm Văn Huệ, một cơ sở cách mạng xuất vé cho đi.
Ngày 12-3-1934, đồng chí Nguyễn Tạo và đồng chí Lê Chủ trực tiếp chỉ đạo lớp học cho cốt cán của các cơ sở Đảng. Lớp mở tại Yên Lộ có nội dung làm cho học viên hiểu rõ tình hình thế giới và trong nước trong giai đoạn trước mắt, chủ trương công tác phát triển Đảng và các tổ chức quần chúng, phương pháp vận động công nhân, nông dân và dân nghèo thành thị. Sau lớp huấn luyện đã chọn lựa cốt cán lập nên Tỉnh uỷ lâm thời gồm 7 đồng chí: Lê Chủ, Bùi Đạt, Trịnh Khắc Sản, Trịnh Hữu Thường, Hoàng Văn Mạch, Lê Đình Ân và đồng chí Dễnh (tức Mạc), do đồng chí Lê Chủ làm Bí thư.
Cuối tháng 4 - 1934, tổ chức Đảng Thanh Hoá lại bị vỡ, các đồng chí Nguyễn Tạo, Phạm Văn Huệ, Lê Chủ, Bùi Đạt, Đinh Chương Dương lần lượt bị sa lưới địch.
Thực hiện chương trình hành động của Trung ương Đảng, một số đảng viên ở các thành phố lớn đã dùng hình thức tranh luận công khai trên báo chí hợp pháp để chống lại những quan điểm tư tưởng tiêu cực, lạc hậu, xa lìa thời cuộc, cam tâm làm nô lệ, làm bồi bút, tay sai cho thực dân Pháp.
Những bài báo tiến bộ ấy đã dẫn đường cho học sinh trung học Thanh Hoá. Năm học 1933- 1934, học sinh lớp Đệ tam do Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh) chủ trì đã ra tờ báo tay Con Sáo lưu hành nội bộ, phát hành được nhiều số. Nguyễn Thường Khanh cùng với Trần Văn Cẩn cộng tác vẽ tranh châm biếm các thói hư, tật xấu.
Năm học 1934- 1935, Nguyễn Tuân, phóng viên báo Trung Bắc Tân Văn tại Thanh Hoá đã tổ chức lễ truy điệu nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là người học hành đỗ đạt nhưng không ra làm quan mà đi làm báo. Sinh thời, ông dịch nhiều sách văn học Pháp ra tiếng Việt. Gần một trăm học sinh trung học đã dự lễ truy điệu ông ở chùa Hội Đồng (Đào Viên).
Năm học 1935-1936, Bùi Kính Thăng học sinh lớp Đệ Nhị trung học dùng máy chữ chép lại bài báo đả kích Đoàn xiếc nước Anh Hác-mơ-stông (Harmstons) diễn trò miệt thị dân tộc Việt Nam đăng trên tờ báo Loa, một tờ báo trào phúng ở Hà Nội. Bản chép bằng máy chữ được phong trào chơi thư luân lưu thời bấy giờ sao chép thành nhiều bản phổ biến rộng rãi trong học sinh và dân chúng. Nguyễn Đắc Giới (Thôi Hữu), Võ Cương và nhiều học sinh khác tích cực hưởng ứng việc làm này.
Hồi đó với bút danh Tuấn Thừa Sắc, Nguyễn Tuân đã viết bài cho báo Trung Bắc Tân văn, số ra Chủ nhật ngày 19-1-1936, tường thuật lại việc gánh xiếc Hác-mơ-stông ngày đầu tiên đến Thanh Hoá (14-1-1936) đã bị học sinh phản đối bằng truyền đơn được rải và dán khắp phố. Tối đến học sinh lại kéo đến cửa rạp ngăn không cho quần chúng vào xem. Sở Mật thám được tin báo đến trường lục soát mới biết Bùi Kính Thăng là người chủ động trong việc ấy. Sáng ngày 15-1-1936, Hiệu trưởng trường Trung học ký lệnh đuổi học 1 tháng đối với Bùi Kính Thăng. Tin đó loang ra như dầu đổ vào lửa, nhân dân Thành phố tẩy chay xem xiếc. Đoàn xiếc phải gấp lên đường vào Vinh. Nhưng tại Thành phố này phong trào phản đối còn cao hơn, kết quả là chủ rạp đã phải treo cổ tự tử ở khách sạn nhà ga Vinh vào tối 29-1-1936 vì những khó khăn về tài chính mà y đã gây ra trong việc diễn trò miệt thị dân tộc Việt Nam.
Sau này trở lại trường học, Bùi Kính Thăng cùng với Nguyễn Đắc Giới, Lê Trọng Thoàn,… lập nên Hội đọc sách báo cách mạng do Nguyễn Xuân Phương (y tá Bệnh viện tỉnh) cùng với Trương Khâm, Nguyễn Đình Thực hướng dẫn tranh luận đề tài duy vật chống duy tâm. Hội còn lưu hành nhiều tài liệu bí mật, như Kinh tế chính trị học tiểu luậnCách mạng tháng Mười Nga; Đệ nhất - Đệ nhị - Đệ tam quốc tế; Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Từ 10 hội viên buổi ban đầu đã phát triển lên 20 hội viên.
2. Thời kỳ 1936- 1939
Trong cao trào cách mạng dân tộc dân chủ 1936-1939, trước những điều kiện cách mạng trong nước có nhiều thuận lợi, thực hiện chủ trương của Đảng về chuyển hướng đấu tranh, chuyển các hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, nửa hợp pháp, đấu tranh từ thấp đến cao chống chế độ phản động thuộc địa, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình, tổ chức cộng sản ở Thành phố đã có nhiều hoạt động phát triển đảng viên, mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng.
Đại hội VII Quốc tế cộng sản (7-1935) vạch ra nhiệm vụ trước mắt là chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hoà bình.
Tháng 5-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt giành được thắng lợi trong tổng tuyển cử đưa đến việc thành lập Chính phủ Bình dân Pháp. Chính phủ này đã quyết định thả tù chính trị, tiến hành một số cải cách xã hội cho lao động ở các thuộc địa và thành lập một Uỷ ban điều tra tình hình Đông Dương.
Tháng 7 -1936, Trung ương Đảng đặt nhiệm vụ trước mắt của Cách mạng Việt Nam là đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hoà bình, chủ trương lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, triệt để lợi dụng những khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để lãnh đạo quần chúng, đồng thời duy trì và phát triển các tổ chức bí mật của Đảng phòng khi bất trắc.
Trung ương Đảng phát động phong trào đấu tranh công khai, mở đầu bằng hình thức vận động lập Uỷ ban trù bị Đông Dương Đại hội nhằm thu thập nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tiến tới triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương để thông qua Bản Dân nguyện gửi Phái bộ điều tra Pháp sắp sang nước ta.
Tại Thành phố Thanh Hóa một số đảng viên cũ của Tân Việt có cảm tình với Đảng Cộng sản như Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Đình Thực, Lê Liên Giao, Lê Liên Vũ, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Văn Thiệp… đã tập hợp được 30 người cùng nhau lập Ủy ban hành động, thu thập hàng trăm chữ ký vào bản Dân nguyện. Tháng 2-1937, Gô-đa (Godart) phái viên của Chính phủ Bình dân Pháp sang Đông Dương ghé qua Tòa sứ Thanh Hóa một đêm. Ủy ban hành động khu Lò Chum đã cử một Đoàn đại biểu gồm công chức, trí thức, chính trị phạm, nhà báo… đại diện nhân dân trực tiếp gặp Gô-da đưa bản Dân nguyện, với yêu sách: “Dân tộc Việt Nam phải được tự do dân chủ, miễn sưu, giảm thuế, xóa bỏ những thứ thuế vô lý, tăng lương, giảm giờ làm, thả tù chính trị…” Gô-đa buộc phải tiếp Đoàn và hứa nghiên cứu giải quyết các yêu sách mà Đoàn nêu ra.
Tiến lên một bước, Ủy ban này đã lập nhóm Mặt trận Dân chủ và cử người vào Huế liên lạc với Phan Đăng Lưu để nhận kế hoạch cụ thể.
Trong thời gian này, một số cán bộ, đảng viên vừa ra khỏi nhà tù đế quốc và nhiều cán bộ cốt cán của Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng bắt mối với các cơ sở, xây dựng và củng cố bộ máy lãnh đạo, xây dựng các tổ chức quần chúng, phát động phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, theo tinh thần hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936.
Hội nghị Yên Lộ (Thiệu Hóa) tháng 12-1936 của Tỉnh ủy chủ trương: Đẩy mạnh đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp lên một bước mới, mạnh mẽ và rộng khắp. Tổ chức hoạt động công khai và nửa công khai ở Thành phố nhằm đi sâu vận động công nhân trong các nhà máy và dân nghèo thành thị; Xúc tiến liên lạc với Trung ương Đảng .
Hội nghị quyết định dời cơ quan Tỉnh ủy từ nông thôn về Thành phố, đặt địa điểm liên lạc công khai, nửa công khai, liên lạc đặc biệt. Một lần nữa Thành phố trở thành đầu mối liên lạc của phong trào cách mạng trên địa bàn tỉnh.
Được phân công phụ trách phong trào công khai ở Thành phố, Bùi Đạt mới ở tù ra gặp Công sứ La-gờ-re-giơ (Lagrèze) yêu cầu cho làm việc tại Thành phố, một mặt để lo cuộc sống, mặt khác cũng để “các ông quản lý được sát”. Bùi Đạt thuê một căn nhà nhỏ số 10 phố Huế, bên ngoài mở hiệu giặt là, bên trong là nơi liên lạc. Nhưng tháng 7-1937, hiệu giặt đã phải đóng cửa, nơi liên lạc công khai phải chuyển đến một địa điểm khác.
Mùa Thu năm 1937, chính quyền thuộc địa chủ trương thành lập “Nghị viện dân biểu Trung Kỳ”, một cái bánh vẽ dân chủ giả hiệu. Bọn giàu có quyền thế coi đây là thời vận để kiếm chác chức “quan nghị”. Hưởng ứng hay không ? Thông cáo ngày 20-3-1937 của Trung ương Đảng đã nói “Vô luận là cuộc tuyển cử gì, Đảng ta có thể tham gia được là nên tham gia… Đối với vấn đề chọn người ra tranh cử, chúng ta không chỉ chọn rành là đồng chí mà cần đem những người cảm tình ra ứng cử”
Từ tinh thần ấy, Tỉnh ủy Thanh Hóa chủ trương liên hiệp hành động với những thân sĩ tiến bộ trong “phái lão thành” và những phần tử cấp tiến trong “phái thanh niên” để tiến hành cuộc vận động tranh cử.
Trung tuần tháng 7-1937, một cuộc họp có tính chất mặt trận đã diễn ra tại nhà ông Nguyễn Văn Ninh, số 20 phố Lò Chum gồm những đại diện thân sĩ tiến bộ ở các huyện như Nguyễn Đan Quế (Vĩnh Lộc), Nguyễn Duy Vận (Tĩnh Gia), Hoàng Văn Khải (Thiệu Hóa),… lớp thanh niên cấp tiến như Lê Liên Giao, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Đình Thực, Nguyễn Văn Hà (Thành phố) và đại diện của Đảng bộ: Bùi Đạt, Nguyễn Văn Hồ, Nguyễn Hữu Vơn,… Trong bầu không khí hiểu biết lẫn nhau, những người dự họp đã thống nhất thành lập Ban vận động và nhất trí một chương trình hành động nhằm đòi tự do dân chủ, toàn xá chính trị phạm, giảm sưu thuế,… nhất trí lựa chọn các ứng cử viên của Mặt trận Dân chủ tại 6 khu vực bầu cử trong tỉnh, phân công tỏa về các phủ huyện tuyên truyền vận động cho ứng cử viên theo danh sách dự kiến. Kết quả lực lượng cách mạng đã giành được thắng lợi ở 5 trong tổng số 6 khu vực bầu cử toàn tỉnh.
Riêng khu vực Thành phố, Quảng Xương và tổng Thủy cơ, Mặt trận Dân chủ đặt trụ sở tại nhà ông Tú Tá (phố Huế) để người ứng cử của Mặt trận là Hoàng Văn Khải tiếp xúc với cử tri. Còn Ban Vận động là Bùi Đạt, Nguyễn Văn Ninh, Lê Liên Vũ, Nguyễn Đình Thực vẫn họp tại nhà ông Ninh nhiều lần để định kế hoạch vận động sát hợp. Kết quả là Hoàng Văn Khải đã trúng cử với số phiếu 525/791.
Tháng 8-1937, tại nhà ông Nguyễn Văn Khang (Lò Chum), Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Huy Quang chủ trì Hội nghị giữa Ban Vận động bầu cử của Mặt trận Dân chủ với 5 ứng cử viên do Mặt trận giới thiệu đã trúng cử để lưu ý họ ủng hộ chương trình hoạt động của Mặt trận và đáp ứng những yêu cầu thỉnh nguyện của nhân dân tại các kỳ họp Viện Dân biểu, 5 vị trúng cử lại gặp Mặt trận Dân chủ để tập hợp dân nguyện.
Tháng 12-1937, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa chính thức bắt liên lạc với Trung ương và chính thức được công nhận là một Đảng bộ trực thuộc Xứ ủy Trung Kỳ. Theo sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy quyết định thành lập Ủy ban Vận động cách mạng ở Thành phố và 10 huyện.
Bùi Đạt và Nguyễn Hữu Vơn phụ trách Ủy ban Thành phố đã định chương trình hành động gồm:
- Vận động xây dựng các Hội Ái hữu trong công nhân, nhân dân lao động thành thị; tổ chức các đoàn thể quần chúng: Đoàn Thanh niên Dân chủ, Hội Phụ nữ dân chủ, Hội Đọc sách báo công khai, Hội Học sinh, Hội Cứu tế đỏ…
- Tiến hành các cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ, đòi tự do lập hội, lập nghiệp đoàn, tự do báo chí, mở trường học, đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, sa thải, cúp phạt, chống thuế, đòi ân xá tù chính trị.
- Vận động nhân dân ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật, tham gia phong trào Truyền bá Quốc ngữ.
Ủy ban Vận động cách mạng Thành phố đã nâng tầm hoạt động lên một chất lượng mới so với thời kỳ Ủy ban hành động đưa thỉnh nguyện đến Gô-đa.
Dựa vào những người tiến bộ ở Lò Chum, Ủy ban hành động cách mạng Thành phố đặt vấn đề xây dựng Điều lệ cải lương hương tục ở làng Đức Thọ Vạn có 4 giáp: Đông, Nam, Tân Lợi, Tân Mỹ. Điều lệ cải lương hương tục làng Đức Thọ đã mang tính chất dân chủ, tương tế ái hữu, buộc Tri phủ Đông Sơn phải áp triện cho thi hành. Trong thực tế chỉ có 2 giáp Tân Lợi, Tân Mỹ thực hiện có kết quả vì cả chủ lò, thợ bạn nơi đây còn mang đậm chất bình dân.
Đầu năm học 1936- 1937, các hội viên Hội Đọc sách báo cách mạng trường Trung học Thanh Hóa tham gia cổ động cho tờ báo Lao động (Le Travail) là tờ báo đầu tiên của Xứ ủy Bắc Kỳ xuất bản bằng tiếng Pháp. Chủ nhật 15-4-1937, Hội tổ chức mít tinh ủng hộ phong trào Mặt trận Bình dân Tây Ban Nha ở chân núi Nhồi. Ngoài một trăm học sinh và thanh niên Thành phố, còn có một số phu xe kéo cũng tới dự.
Cuối năm học 1936- 1937, Nguyễn Trọng Chơn, Nguyễn Văn Nghiêm, Phan Cự Nguyên tổ chức Nhóm Thanh niên Dân chủTrường Trung học, số lượng trên ba chục người. Bùi Đạt đã chỉ đạo những người lãnh đạo Nhóm Thanh niên Dân chủ vận động lấy chữ ký của học sinh đòi giảm học phí do Hiệu trưởng theo lệnh Pháp nâng mức đóng góp từ năm học 1935- 1936. Cuộc vận động được bắt đầu từ hè 1938 đến tháng 11-1938 đã thu được khoảng bốn trăm chữ ký của học sinh ba khối lớp, rồi cử đại diện nộp cho Hiệu trưởng. Trước sự phản kháng quyết liệt của học sinh, Hiệu trưởng Thái Nguyên Đào buộc phải hạ học phí từ 9 hào/1 học sinh /1 tháng xuống 5 hào/học sinh/ 1 tháng, đồng thời trả lại tiền mua sách chung.
Từ Hội Đọc sách báo cách mạng và Nhóm Thanh niên Dân chủ trường Trung học, tháng 3-1938, tại Thành phố, đã thành lập Đoàn thanh niên tân tiến tỉnh, do đồng chí Trịnh Huy Quang Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo. Lúc đầu Đoàn mới có 15 người tham gia, Hội nghị thống nhất mỗi đoàn viên góp 2 hào (tiền Đông Dương) để lập tủ sách mác xít và sách báo tiến bộ khác. Nguyên tắc hoạt động của đoàn là: “Một cây ba nhánh, một nhánh ba hoa, một hoa ba cánh”, điều đó có nghĩa là một đoàn viên tuyên truyền kết nạp 3 người khác, và ba người là một nhóm giữ liên hệ với nhau, người trưởng của nhóm mới giữ liên hệ với người kết nạp mình, giữa nhóm này và nhóm khác không có quan hệ ngang, nhằm giữ bí mật của tổ chức. Đoàn đã vận động các ông Hội đồng tỉnh lập Thư viện bình dân ở phố Cầu Sâng. Tháng 6-1938, Đoàn Thanh niên tân tiến đổi tên thành Đoàn Thanh niên dân chủ.
Tháng 5-1938, Trịnh Huy Quang giao nhiệm vụ cho Nguyễn Bá Trình đưa tài liệu của Thanh Hóa ra Hà Nội và dự hội nghị thành lập Đoàn thanh niên dân chủ. Lúc về Nguyễn Bá Trình mang theo bài hát Thanh niên xích vệ (la jeune garde) nội dung lời ca tiếng Việt có đoạn: “Chúng ta là thanh niên xích vệ, chúng ta là vệ đội của ngày mai. Vì trưởng sinh trong đau đớn này, một là toàn thắng, hai là hy sinh…”.
Một thời gian sau, Trần Đình Tri phái viên Thanh niên dân chủ Trung ương vào gặp Trịnh Huy Quang, Trịnh Huy Quang phân công đảng viên Nguyễn Hữu Vơn, phóng viên báo Nhành lúa, phụ trách Tỉnh đoàn Thanh niên dân chủ mở Đại hội tại cơ sở bán công khai của Tỉnh ủy ở Cửa hàng rượu dâu ngay Phố Lớn. Sau Đại hội phong trào thanh niên phát triển về các huyện, ở Thành phố đã phát triển rộng ở: Sở Địa chính, Bệnh viện, Phố Lớn, Lò Chum…
Cũng trong thời gian này, chị Lê Thị Định (vợ đồng chí Trịnh Huy Quang) xây dựng cơ sở Phụ nữ dân chủ ở Lò Chum, gồm các hội viên: Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Thiệp, Nguyễn Thị Trâm, chị Phú, chị Hiền… Hội còn phát triển cơ sở xuống phố Tịch Điền.
Các cơ sở Hội Phụ nữ dân chủ cùng với Đoàn Thanh niên dân chủ đều là những cơ sở hăng hái truyền bá sách báo cách mạng, tham gia tích cực trong các hội Ái hữu tương tế, tham gia phong trào Truyền bá quốc ngữ… Đặc biệt họ đã tích cực tham gia lấy chữ ký vào thỉnh nguyện chống “Dự án thuế mới” để phục vụ ngân sách chiến tranh, hăng hái tham gia quyên góp thuốc men, quà bánh, quần áo và ủng hộ tinh thần cho tù chính trị bị giam giữ ở nhà lao Thanh Hóa, đấu tranh chống bắt lính thợ không chuyên nghiệp, hồi đó thường gọi là lính O.N.S (Ouvriers non Spécialisés).
Nhằm tiếp tục nâng cao ý thức cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, tháng 5-1938, tại Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh ủy quyết định mở “Thanh Hoa thư quán”, đại lý phát hành công khai sách báo của Đảng do đồng chí Bùi Đạt làm chủ nhiệm, các đồng chí Nguyễn Hữu Vơn thường trực và Trịnh Hữu Thường giao dịch bán sách báo. Học sinh trung học ở Thành phố lập các nhóm cộng tác viên đi bán sách báo. “Thanh Hoa Thư quán” dần dần trở thành trung tâm tuyên truyền, cung cấp sách báo tiến bộ cho các cơ sở cách mạng trong Thành phố và cả tỉnh.
Lúc đầu do ít vốn, nhà thuê chật hẹp, số lượng sách báo mua chưa nhiều nên không đáp ứng được đòi hỏi của người đọc. Tỉnh ủy phải vận động đóng cổ phần tùy theo khả năng, đóng nhiều hay ít cũng được. Chỉ mấy ngày sau số vốn đã tăng thêm 200 đồng nên mua được sách báo nhiều hơn, thuê được nhà hai tầng ở 105 phố Lớn. Bạn đọc không chỉ ở Thành phố mà còn phát triển rộng ở nhiều huyện, không chỉ là những độc giả riêng lẻ mà còn được tổ chức thành các nhóm đọc sách báo mác xít: nhóm trường Phùng Quang Lan, nhóm trường Trung học, nhóm phố Nhà Dòng, nhóm khu Lò Chum, nhóm phố Tịch Điền, nhóm phố Nhà thương… Những sách được bạn đọc ưa thích và mua nhiều nhất là: Vấn đề dân cày, Chủ nghĩa cộng sản sơ giản, Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Giai cấp và giai cấp đấu tranh, Lịch sử đệ tam quốc tế, Lịch sử lao động quốc tế, Giới thiệu đất nước Xô viết (Voici URSS), Muốn trở thành chiến sĩ xã hội, tiểu thuyết Người Mẹ của Mácxim Goócki…
Thanh Hoa thư quán còn làm đại lý cho các tờ báo Tin Tức, Thời thế, Thời mới, Đời nay, Tiếng nói của chúng ta (Notre voix) của Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ và một số sách báo khác của Trung Kỳ, Nam Kỳ.
Sách báo cách mạng đã góp phần cổ vũ, thúc đẩy phong trào quần chúng ở Thành phố Thanh Hóa và ở các huyện lên cao.
Giữa năm 1938, đồng chí Trịnh Huy Quang, Bí thư Tỉnh ủy đã xây dựng và phát triển phong trào tại Nhà máy Diêm Hàm Rồng, thông qua tập hợp một số thanh niên vào “Hội bóng đá”. Đầu năm 1939, từ Hội bóng đá, Hội tương tế ái hữu được thành lập, thu hút đông đảo công nhân tham gia.
Từ năm 1939, tận dụng thời cơ thuận lợi, Đảng đã dựa vào một số nhân sỹ yêu nước, có thế lực, đứng ra tổ chức Hội Truyền bá quốc ngữ.
Đồng chí Lê Hữu Kiều (Nam Mộc) được Xứ ủy Trung Kỳ chỉ định tham gia Ban Chấp hành hội Truyền bá quốc ngữ, phụ trách tuyên truyền, và được phân công về Thanh Hóa xây dựng Hội.
Giữa năm 1939, các đồng chí Lê Hữu Kiều, Lương Duy Ủy, Lê Liên Vũ, Bùi Kính Thăng… góp tiền, góp sức lập nên trường tư thục Lam Sơn ở phố Bến Ngự, khóa học đầu tiên 1939 - 1940 đã có khoảng 200 học sinh. Học phí thu được ngoài phần trả lương cho giáo viên, chi phí cho giảng dạy, phần còn lại cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh là con chính trị phạm đang theo học ở trường.
Ổn định được nơi ở, việc làm, Lê Hữu Kiều tập hợp một số thanh niên giáo viên nhiệt tình, yêu nước làm trung kiên xây dựng chi hội truyền bá quốc ngữ Thanh Hóa, mời cụ Nguyễn Văn Nguyên (Hường Nguyên) Ủy viên Hội đồng Thành phố làm Chi hội trưởng, chị Nguyễn Thị Nghiên, các anh Lê Huy Hoạt, Trương Khâm, Bùi Kính Thăng, Đỗ Trọng Thuận, Lê Doãn Bổng, Hồ Sỹ Phấn… phụ trách tổ chức, tuyên truyền, tài chính,… hoặc vận động người biết chữ làm giáo viên, người chưa biết chữ đi học.
Lớp học phần lớn đặt ở đền chùa, trường học, cá biệt ở nhà dân. Sau 3 tháng học, học viên thi mãn khóa. Ai nấy đều phấn khởi thấy mình từ chỗ chưa biết chữ đã đọc thông, viết thạo, làm được 4 phép tính.
Phong trào Truyền bá quốc ngữ từ Thành phố lan tỏa về các vùng nông thôn phụ cận và được duy trì liên tục, mặc dù thực dân Pháp gây khó khăn, cản trở. Cụ Hường Nguyên xin nghỉ Chi hội trưởng, Lê Hữu Kiều bị bắt vào cuối năm 1940, tổ chức Chi hội không còn, nhưng các giáo viên nhiệt huyết vẫn tiếp tục duy trì việc dạy chữ cho đồng bào.
Do ý thức được vấn đề tổ chức và tập hợp lực lượng công nhân và những người lao động ở Thành phố Thanh Hóa cần phải xúc tiến ngay, nên năm 1938, đồng chí Trịnh Huy Quang - Bí thư Tỉnh ủy đồng ý cho thành lập chi bộ ở nhà máy rượu Nam Đồng Ích, do đồng chí Phạm Đức Nhuận làm Bí thư, để vận động lập nghiệp đoàn ái hữu tương tế hội. Tỉnh ủy phân công đồng chí Lê Chủ gặp anh Trịnh Công Song (bị lộ ở khu mỏ Quảng Ninh, vào Thanh Hóa làm cai xe cho một trong bảy chủ hiệu xe tay kéo), bàn việc tổ chức cho phu kéo xe với thợ sửa chữa xe đoàn kết đấu tranh nhưng không rơi vào cảnh thất nghiệp, mất việc làm. Giữa năm 1939 đồng chí Lê Chủ lại được phái về nhà máy Diêm, xây dựng Hội tương tế ái hữu công nhân.
Việc tổ chức cho công nhân nhà máy rượu Nam Đồng Ích, những người lao động làm thuê cho các chủ hiệu xe tay kéo và công nhân nhà máy Diêm đoàn kết đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải vô lí… đã giành được thắng lợi bước đầu, là một cuộc tập hợp lực lượng để tập dượt; đồng thời nâng cao ý thức giai cấp cách mạng qua thực tế đấu tranh.
Trong thời kỳ hoạt động công khai này, Đảng cũng rất chú ý giáo dục ý thức quốc tế vô sản, vận động quần chúng ủng hộ Mặt trận bình dân Tây Ban Nha chống phát xít, quyên tiền ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật. Tại Hoa thương Hội quản (chùa Hội Quản) diễn ra cuộc mít tinh có 600 người dự. Đồng chí Bùi Đạt thay mặt nhân dân trong tỉnh đọc diễn văn kêu gọi kháng chiến chống Nhật và trao cho Bang trưởng Hoa kiều 100 lá thư và số tiền quyên góp là 180 đồng Đông Dương để chuyển về nước. Mít tinh vừa kết thúc thì lính cẩm ùa vào bắt Bùi Đạt đem về trại giam nhằm uy hiếp tinh thần cả người Việt lẫn người Hoa.
Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Cách mạng tư sản dân quyền Pháp (14-7-1789 - 14-7-1939), đại diện Đảng bộ phối hợp với chi nhánh Đảng Xã hội Pháp tại Thanh Hóa tổ chức cuộc mít tinh tại Rạp hát Cửa Hậu vào tối 13-7-1939. Lễ khai mạc có hát Quốc tế ca, các khẩu hiệu: “Tự do, cơm áo, hòa bình; chống chiến tranh phát xít” là chủ đề của cuộc mít tinh. Đông đảo thanh niên giác ngộ cách mạng được chọn dự mít tinh đã nồng nhiệt cổ vũ Huỳnh Ngọc Huệ, đảng viên cộng sản, giáo viên dạy nghề, thay mặt công nhân phát biểu ý kiến đòi tự do dân chủ, đòi thả tù chính trị phạm, đòi giảm sưu thuế, cải thiện đời sống, chống chiến tranh phát xít.
3. Thời kỳ 1939 – 1945
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Hai ngày sau Pháp, Anh tuyên chiến với Đức. Đông Dương thuộc địa của Pháp bị lôi cuốn ngay vào vòng khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quy mô toàn cầu.
Đối với phong trào cách mạng ở Thành phố Thanh Hóa cũng như trên phạm vi cả nước, phương thức đấu tranh công khai hợp pháp đòi quyền dân sinh dân chủ không còn điều kiện khách quan để thực hiện, cần phải có sự chuyển hướng chiến lược đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn mới. Ngày 29-9-1939, Trung ương gửi cho toàn Đảng một bản thông cáo quan trọng, trong đó nhận định: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”.
Ngày 6-11-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ VI tại Hóc Môn, Bà Điểm (Gia Định) ra Nghị quyết về tình hình thế giới, tình hình Đông Dương và về chính sách của Đảng; quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên trên hết; đánh đổ đế quốc phát xít Pháp-Nhật là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu.
Hội nghị đặt mục tiêu đấu tranh: “Giải phóng dân tộc… lấy quyền lợi dân tộc là tối cao tất cả mọi vấn đề của cách mạng kể cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm mục đích ấy mà giải quyết” và quyết định thành lập Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Nghị quyết Hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng, định hướng hoạt động chỉ đạo của các Đảng bộ trong điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, ở Đông Dương, thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy cai trị, tăng cường đàn áp phong trào yêu nước và cách mạng. Ở Thanh Hóa, hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, nhiều cán bộ, đảng viên bị địch khủng bố, bắt bớ, giam cầm. Cuối năm 1939 đầu năm 1940, “Bộ máy lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên thực tế không còn tồn tại, nhiều chi bộ Đảng bộ tan vỡ”.
Tại Thành phố, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Phạm Đức Nhuận, Lưu Văn Bân đã lập ra Ban Vận động thành lập Mặt trận phản đế gồm các đồng chí: Đỗ Đông Uyên, Nguyễn Trọng Chơn, Lê Hữu Kiều, Bùi Kính Thăng, Đỗ Huy Trai,… Ban vận động phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939, giới thiệu Điều lệ Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, Điều lệ Đoàn thanh niên phản đế cứu quốcHội Phụ nữ phản đế cứu quốc,…
Cơ sở Thanh niên phản đế Trường tư thục Lam Sơn do Phạm Nguyên Phẩm, Đỗ Trọng Thuận (Việt Khoa) phụ trách, cơ sở Đoàn ở Trường trung học do Nguyễn Nguyên phụ trách. Sau khi thành lập, cả hai cơ sở Đoàn tuyên truyền vận động thanh niên, học sinh và nhân dân thành lập Mặt trận phản đế cứu quốc.
Tháng 5-1940, Mặt trận đã tổ chức một cuộc rải truyền đơn theo hình thức bỏ vào phong bì có ghi địa chỉ bí mật cài vào cửa sổ, cửa ra vào từng gia đình, nhằm vận động ủng hộ tù chính trị và hưởng ứng cuộc mít tinh vào mùa hè  năm 1940.
Đầu năm 1940, đồng chí Trần Như Hoạt (Trần Bảo) thoát khỏi nhà tù Thái Bình vào cơ quan bí mật của Xứ ủy Bắc Kỳ đóng ở Nghĩa Trang (Hoằng Hóa). Sau khi vào Thành phố, đồng chí đã bắt mối với Vũ Đình Chung và giao cho đồng chí Chung cung cấp đá in lytô cho Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình. Vũ Đình Chung giới thiệu Trần Hoạt với Bùi Kính Thăng. Nguyễn Đình Thực, Phạm Văn Sáu, Trương Khâm, Cao Xuân Dị. Đỗ Trọng Thuận, Bùi Kính Thăng cung cấp bản đồ Thanh Hóa cho Trần Hoạt nghiên cứu địa hình xây dựng chiến khu Ngọc Trạo phía Tây Bắc Thanh Hóa và chiến khu Yên Mỹ phía Tây Nam Thanh Hóa.
Cũng thời gian ấy, đồng chí Bùi Lâm sau khi bị lộ ở Hải Phòng, đã vào Thanh Hóa bắt mối xây dựng cơ sở nhà bà Nguyễn Thị Dịa (thân mẫu đồng chí Vũ Đình Chung).
Tại khu vực Thành phố Thanh Hóa, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, đầu năm 1940, đồng chí Đào Duy Dếnh, cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ ra Thanh Hóa liên lạc với Đảng bộ Thanh Hóa. Đồng chí Đào Duy Dếnh đã liên lạc được với các đồng chí Lê Tất Đắc, Lưu Văn Bân, Nguyễn Đức Nhuận và một số đồng chí khác. Tháng 3-1940, các đồng chí đã tổ chức cuộc họp tại Bút Sơn (Hoằng Hóa), thành lập Tỉnh ủy lâm thời, cử đồng chí Nguyễn Đức Nhuận làm Bí thư.
Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Nhân cơ hội này, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân ta lại phải rên xiết dưới hai tầng áp bức của phát xít Pháp-Nhật. Nhưng ách áp bức bóc lột càng nặng nề thì tinh thần và khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta lại càng dâng cao. Tháng 9-1940, khi phát xít Nhật kéo vào Lạng Sơn, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã bùng nổ. Tiếp đó, tháng 11-1940, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ oanh liệt. Trước diễn biến mới của phong trào cách mạng thế giới và trong nước, tháng 11-1940, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh). Hội nghị nhận định: sự xâm lược của phát xít Nhật và sự đầu hàng của thực dân Pháp làm cho nhân dân ta lâm vào tình trạng “một cổ hai tròng”. Đảng ta dự đoán “những biến cố xảy ra sẽ đẩy nhân dân Đông Dương đến một tình thế phải tranh đấu quyết liệt để sống… Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”.
Trước tình thế mới của cách mạng nước ta, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, với nhận định: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng)-mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. 
Tháng 5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chủ trì Hội Nghị Trung ương lần thứ Tám. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh; đề ra chủ trương sửa soạn khởi nghĩa vũ trang; quyết định duy trì và phát triển cơ sở du kích Bắc Sơn-Võ Nhai, đồng thời ra sức củng cố, mở rộng cơ sở ở Cao Bằng, xây dựng những nơi đó làm trung tâm của việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc về sau.
Hội nghị khẳng định việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn trước mắt. Với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn. Hội nghị nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là phát triển đảng viên và đào tạo cán bộ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã phát triển hoàn chỉnh đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Nghị quyết Hội nghị đã nhanh chóng được phổ biến đến các địa phương. Cán bộ, đảng viên của Đảng mang tinh thần của Nghị quyết Trung ương đến với quần chúng, biến tinh thần ấy thành lực lượng vật chất to lớn của cách mạng.
Quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết, trước sự phát triển của phong trào cách mạng trong vùng, tháng 7-1941, Chiến khu Ngọc Trạo được xây dựng. Nhiều chiến sĩ cộng sản ở Thành phố đã lên chiến khu hoạt động cách mạng như Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Phạm Văn Sáu,… Các cơ sở cách mạng ở Thành phố cũng không hoạt động công khai như trước, rút vào bí mật, tổ chức tiếp cận tài liệu bí mật của Đảng bằng cách truyền tay nhau nghiên cứu.
Tháng 12 - 1941, phát xít Nhật chính thức tuyên chiến với Mỹ – Anh, gây ra chiến tranh Thái Bình Dương. Thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” phát xít Nhật đưa vào Thanh Hóa một phái đoàn kinh tế để khảo sát các khu vực rừng núi, hầm mỏ, lập kế hoạch khai thác tài nguyên, đồng thời còn đặt Tòa hiến binh Nhật bên cạnh Tòa công sứ Pháp. Chúng còn đưa vào Thanh Hóa một đội quân gồm đủ các sắc lính đông tới 1000 tên, đóng rải rác khắp Thành phố.
Đầu năm 1942, đồng chí Lê Tất Đắc vượt nhà tù Buôn Ma Thuột về Lò Chum bắt liên lạc với đồng chí Nguyễn Đình Thực gây dựng cơ sở cách mạng.
Tháng 5-1942, vừa thoát khỏi nhà tù thực dân, đồng chí Vũ Đình Chung ra Hà Nội chắp nối được liên lạc với các đồng chí Vũ Đình Huỳnh và Nguyễn Lương Bằng, qua đó được biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng từ tháng 1-1941 và chủ trì Hội nghị Trung ương VIII (tháng 5-1941).
Đem tài liệu về Thanh Hóa, đồng chí Vũ Đình Chung làm nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến chính sách Mặt trận Việt Minh chống lại luận điệu lừa bịp của bọn Đại Việt và bắt mối lại với các cơ sở cũ: Trương Khâm, Vũ Đức Huề (Trần Quang Huy) xây dựng thành nhóm lãnh đạo Việt Minh Thành phố, từ đó phát triển rộng ra. Rút kinh nghiệm bài học giữ bí mật, nhóm lãnh đạo Việt Minh Thành phố phát triển tổ chức theo giới nghề nghiệp có nhiệm vụ cụ thể:
- Nhóm vận động tiểu thương do đồng chí Nguyễn Khắc Thiệu phụ trách, có nhiệm vụ chủ yếu là vận động trợ giúp đồng bào nghèo khó.
- Nhóm Lò Chum do bà Trần Thị Nam phụ trách, công việc chính là phân phối báo Cứu quốc, báo Cờ giải phóng, bán tín phiếu Việt Minh.
- Nhóm bệnh viện do chị Nguyễn Thị Nghiên phụ trách đã xây dựng được tổ Việt Minh bệnh viện, nhờ đó đã chăm sóc, chữa bệnh cho nhiều tù chính trị thoát khỏi hiểm nghèo. Trong quan hệ nghề nghiệp, chị Nghiên còn phát triển rộng được nhiều nhóm: Vệ Yên, nhà máy Đèn, Dốc ga…
- Nhóm trường học do đồng chí Hồ Trúc (Nguyễn Tài Uyên) giáo viên trường tư Nord’ Annam phụ trách.
- Nhóm công chức và binh lính do Lê Xuân Phùng phụ trách, đã xây dựng lực lượng nòng cốt lập nên nhóm Binh sĩ cứu quốctừ Đội Lân, Đội Dục…
Tháng 7-1942, đồng chí Tố Hữu vượt ngục Đắc Lây, về Lò Chum bắt liên lạc với Nguyễn Đình Thực. Đến cuối năm 1942, sau Hội nghị cơ sở Đảng ở làng Thượng (Nga Sơn), Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa mới nhận được Nghị quyết Trung ương 8 và Chương trình hành động của Việt Minh, chuyển Thanh Hóa ái quốc Hội sang Đoàn thể cứu quốc. Sau đó, Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa được chính thức công nhận.
Mùa Xuân 1943, Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức trong chiến dịch Stalingrat. Phát xít Nhật sa lầy trong chiến tranh Thái Bình Dương buộc Pháp phải ký Hiệp ước kinh tế Nhật – Pháp (7-1943) để cướp thóc gạo và nông sản phẩm của nhân dân ta theo hình thức “thóc tạ, bông cân”. Chúng quy định mỗi người dân ở vùng có nông giang phải bán 1,4 kg thóc với giá bằng 1/4 giá thị trường lúc bấy giờ. Chúng còn ra lệnh buộc nông dân nhổ lúa trồng đay. Đồng thời bắt phu đi nạo vét sông Hói Đào (Nga Sơn), kênh Than, đào sông Hồ Thượng (Tĩnh Gia)… nhằm vận chuyển phương tiện phục vụ nhu cầu chiến tranh. Hàng chục vạn đồng bào trong tỉnh phải nai lưng, đổ mồ hôi, có khi cả xương máu dưới lưỡi lê và báng súng của Nhật – Pháp, sản xuất bị đình đốn, đời sống nhân dân lao động vô cùng cơ cực.
Ngày 24-6-1943, Tỉnh ủy Thanh Hóa mở Hội nghị tại Hà Trung, nhằm hướng dẫn phong trào toàn tỉnh gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa.
Tỉnh bộ Việt Minh có nhiều chỉ thị: Khẩn cấp tuyên truyền, chống thu lúa, nỗ lực đấu tranh… nhằm cho quần chúng thấy rõ tội ác của giặc Pháp, tố cáo hành động phản quốc của bọn Đại Việt, nêu cao khẩu hiệu “Kiên quyết không để một đồng xu, một hạt thóc, một tên lính cho quân cướp nước Nhật- Pháp”
Ở Thành phố, bọn tay sai Đại Việt cộng tác chặt chẽ với Hiến binh Nhật đàn áp dã man nhân dân, bắn giết tại chỗ những ai chống lại chúng. Không khí chính trị lúc bấy giờ hết sức ngột ngạt.
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo khôn khéo của Mặt trận Việt Minh, các tầng lớp nhân dân Thành phố đã phát huy lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Các em thiếu nhi khu Bến Cốc vừa chăn trâu, vừa quan sát tình hình quân Nhật làm sân bay Lai Thành, thu lượm được nhiều tin tức chính xác về những hành động khủng bố, ngược đãi của bọn Nhật đối với người lao động tại các cơ sở phục vụ quân đội Nhật, cung cấp cho Việt Minh. Thanh niên nông dân các làng ngoại thành chặt cây, đào gốc không cho chúng buộc ngựa, hoặc tháo dây buộc ngựa, làm chúng mất ăn, mất ngủ,…
Phối hợp với phong trào đấu tranh rộng lớn bên ngoài, 244 chiến sĩ cách mạng bị giam trong nhà lao tỉnh đã tuyệt thực với yêu sách: Không được đánh đập tù nhân, phải phát chăn chiếu cho tù nhân, cho tù nhân ăn cơm rời không ngâm vôi, phải thay mắm thối, những buổi đi làm tù nhân được nghỉ một lần và có nước uống, phải cho tù nhân viết thư, cho người nhà đến thăm và gửi quà bánh, mỗi tháng được ra sân một lần… Cuộc tuyệt thực kéo dài 7 ngày đêm bất chấp mọi thủ đoạn đàn áp khủng bố của kẻ thù, cuối cùng chúng phải chấp nhận các yêu sách của cuộc đấu tranh.
Tháng 5-1944, sau khi thoát khỏi nhà tù, chị Sảng giao thông viên của Tỉnh liên lạc gây cơ sở nhà chị Trần Thị Đông, phố Nhà Thương. Thường ngày chị Đông nhận sách, báo cách mạng như: Cờ giải phóng, Đuổi giặc nước, Gái ra trận, Thơ Tố Hữu, Điều lệ Việt Minh… tại nhà chị Lê Thị Liên Huyền (Lò Chum) chuyển đến cho chị Nguyễn Thị Sáu (phố Dốc Ga), chị Nguyễn Thị Nghiên (phố Cửa Tiền), chị Hảo (Phố Lớn), chị Huấn (y tá phòng khám bệnh y sĩ Lê Kiểu),… vận động quyên tiền ủng hộ Việt Minh, chép tôn chỉ mục đích Việt Minh thành nhiều bản chuyển cho tổ chức để phân phối đi các nơi.
Không chịu nổi cảnh áp bức bóc lột của bọn chủ Nhà máy Diêm, trước nạn giá cả leo thang nhanh chóng, đời sống ngày càng cơ cực, được Việt Minh tỉnh chỉ đạo, ngày 12-6-1944 công nhân Nhà máy Diêm Hàm Rồng đã bãi công chống lại chính sách hà khắc của bọn chủ với các yêu cầu: Chống đánh đập và chửi mắng thợ; chống cúp phạt và giãn thợ; tăng lương và giảm giờ làm. Bọn chủ Nhà máy không chịu đáp ứng yêu sách của công nhân, lại còn đe dọa, đồng thời cũng tìm cách dụ dỗ, mua chuộc hòng phá hoại cuộc bãi công, công nhân Nhà máy đã nêu cao cảnh giác, đoàn kết đấu tranh kiên cường trong 4 ngày, buộc chủ Nhà máy phải thực hiện những yêu sách chính đáng của mình.
Tháng 10-1944, đồng chí Bùi Đạt sau khi thoát khỏi nhà tù, bắt liên lạc xây dựng cơ sở ở nhà chị Nguyễn Thị Túy Nga phố Cầu Sâng. Là người thường xuyên tiếp xúc với giới phụ nữ lao động nghèo, buôn thúng bán mẹt, người làm thuê, cô đầu, con hát,... Nguyễn Thị Túy Nga đã tuyên truyền, giác ngộ họ, có trường hợp lấy cắp súng đạn của bọn sĩ quan Nhật nộp cho cách mạng, cơ sở do chị Nguyễn Thị Túy Nga xây dựng trải dài từ Cầu Sâng, Cửa Hậu lên Dốc Ga.
Cuối năm 1944, Tỉnh ủy Thanh Hóa phân công đồng chí Đinh Chương Lân phụ trách Thành phố và khu vực Hoằng Hóa. Về Thành phố, đồng chí Đinh Chương Lân đã chắp nối liên lạc với Vũ Đình Chung.
Chiến tranh thế giới càng bước vào giai đoạn cuối thì phát xít Nhật ở Đông Dương càng đẩy mạnh chính sách đàn áp, bóc lột. Thủ đoạn lừa bịp của Nhật “thu lúa để bán rẻ cho dân nghèo” thực chất là vơ vét lương thực để cung cấp cho binh lính Nhật. Thêm vào đó nạn lụt bão lớn năm Giáp Thân (1944) làm mất mùa nghiêm trọng, vì vậy từ giáp Tết Ất Dậu (1945) nạn đói đã xảy ra khắp làng quê và thành thị. Bị đánh đập tàn nhẫn bằng roi vọt, cùng với cái đói giày vò, dân phu đắp sân bay Lai Thành cho quân Nhật đã hợp lực phá kho gạo của Nhật giải quyết nạn đói. Bọn Nhật bắt hai dân phu định chôn sống, hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng, nhưng dân phu thành phố liền tổ chức đốt một trại lính Nhật trong sân bay, khiến chúng phải tập trung lực lượng cứu chữa, nên đã cứu thoát hai dân phu khỏi bàn tay tàn bạo của giặc Nhật.
Cũng trong thời gian này, các cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh diễn ra liên tục bằng hình thức dán truyền đơn tố cáo hành động dã man của nhà cầm quyền, kêu gọi hoạt động đoàn kết đấu tranh. Ngày 16-1-1945, học sinh đã dán truyền đơn kêu gọi tăng cường đoàn kết trong học sinh, tố cáo những hành động dã man của nhà cầm quyền.
Nhóm Việt Minh trường Bưởi ở Thành phố đã có quy ước không được rải truyền đơn trong Thành vì phạm vi hẹp, kẻ thù dễ phát hiện. Nhưng anh Nguyễn Ngọc Diệp thấy tiếc công in vẫn đem rải. Mật thám truy lùng bắt Diệp hỏi cung. Thế là cả 4 học sinh trường Bưởi: Nguyễn Ngọc Diệp, Phạm Hồng Cư, Trần Việt Phương, Nguyễn Phan Tính (Trần Đức) đều bị bắt. Các anh Phạm Quang Hoàn, Bùi Quang Định, Trương Khâm, Đỗ Trọng Thuận cũng sa lưới địch. Đồng chí Võ Đức Huề đi Huế trong dịp Tết, tối mồng 6 ra đến ga Thanh Hóa cũng bị mật thám bắt. Hồ Trúc về quê ăn Tết, sáng mồng 7 Tết vừa đến trường cũng bị mật thám bắt. Riêng đợt vây ráp này đã có 12 người bị địch bắt giam.
Một nhiệm vụ rất quan trọng, bức thiết của thời kỳ này là phải giành được sự ủng hộ của thanh niên trí thức, học sinh đứng về phía cách mạng, tránh kẻ thù lợi dụng lôi kéo. Từ năm 1936, Công-xi-nhi (Consigny) chánh Sở Kiểm lâm Nam Bộ đã phát triển Hội Hướng đạo sinh Pháp (Éclaireur de France) nhằm cuốn hút lớp thanh niên có học ở Đông Dương trung thành với “Nước mẹ”. Buổi đầu Hướng đạo sinh Thanh Hóa đều do những công chức trung thành với chế độ thực dân nắm, như Trần Diền, Nguyễn Hòa Phẩm, Đoàn Đức Thoan…
Đối lập với họ là những đảng viên cộng sản, những cựu chính trị phạm và những thanh niên yêu nước, giác ngộ cách mạng, đã trực tiếp tổ chức tập hợp hướng đạo sinh theo phương hướng của các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu là “đào tạo thành người quốc dân” từ sau khi Liên đoàn Hướng đạo sinh Đông Dương trở thành đơn vị độc lập năm 1940. Đó là các anh, các chị: Lê Hữu Kiều, giáo viên trường Lam Sơn lập Đoàn Thiếu sinh Lê Lai; Lê Huy Hoạt, giáo viên trường Nord’ Annam của Phùng Quang Lan, lập Đoàn Thiếu sinh Lê Lợi; Trương Khâm, Nguyễn Thị Nghiên lập Bầy sói con Nguyễn Kim; Nguyễn Thế Kỷ lập Bầy sói con Nguyễn Hoàng,…
Về sau họ đều giữ những vai trò chủ chốt trong Hướng đạo sinh, và đã xác định rõ nhiệm vụ là phải giành lấy những quần chúng tiến bộ trong tổ chức này, giác ngộ cách mạng cho họ.
Hướng đạo sinh Thanh Hóa có cơ quan ngôn luận riêng là tờ báo Bạn đường, được phát hành rộng rãi khắp các tỉnh miền Trung, vào Sài Gòn, qua Phnômpênh, Viênchăn. Bạn đường đã vượt ra ngoài khuôn khổ một tờ báo Hướng đạo sinh, nên nhà cầm quyền kiểm duyệt gắt gao.
Hướng đạo sinh Thanh Hóa còn có Hội thể thao riêng là Xitaspo đối lập với Hội bóng đá Kiến Hương của Phan Văn Giáo, tay sai của thực dân Pháp. Trong những hoạt động riêng của Hướng đạo sinh như cắm trại, họp mặt, diễn kịch hoặc tham gia phong trào thể thao Duy-cu-roy (Ducouroy) do nhà cầm quyền tổ chức. Những người lãnh đạo đã được giác ngộ cách mạng đều tìm cách giáo dục lòng yêu nước dưới các hình thức thích hợp, để hướng cho Hướng đạo sinh Thanh Hóa coi trọng công tác quyên góp giúp đỡ người nghèo, nhất là trong nạn đói năm Ất Dậu 1945.
Chính sách bóc lột hà khắc của Pháp-Nhật và nạn lụt cuối năm 1944 đã gây nên nạn đói trầm trọng chưa từng có vào đầu năm 1945. Cả tỉnh có hàng vạn người chết đói. Không hiếm những trường hợp đau thương cả gia đình bị chết đói cùng nơi, cùng lúc. Để đối phó với nạn đói, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Chỉ thị “Đòi ăn”, nêu khẩu hiệu “Quyết giữ lấy thóc mà ăn, không để lọt một hạt thóc vào tay Pháp-Nhật”, vận động nhân dân làm đơn đòi cứu tế, vay lương thực, chặn xe chở thóc, ngô của địch.
Hướng đạo sinh quyên góp gạo nấu cháo, những chuyến xe bò đi nhặt xác người chết đói chở ra vùi chung ở các bãi tha ma, nghĩa địa ven Thành phố.
Số báo Khởi nghĩa đầu tiên của Tỉnh bộ Việt Minh ra ngày 15-2-1945 (mồng 3 tháng Giêng Ất Dậu) đã phân tích rõ: Toàn dân ta giờ đây đã vô cùng cực khổ, nhất định sẽ cầm khí giới đứng lên đánh đuổi giặc Nhật, giặc Pháp, năm Ất Dậu 1945, phải thấy cuộc khởi nghĩa vĩ đại của dân tộc Việt Nam…”Báo Khởi nghĩa khẩn thiết kêu gọi: “Hỡi các giới đồng bào yêu nước! Hỡi các đồng chí cứu quốc! Cơ hội khởi nghĩa không đợi người! Bỏ lỡ dịp này là tội lớn! Sửa soạn gấp lên! Năm khởi nghĩa đã bắt đầu!...”
4. Từ  ngày 9-3-1945 đến ngày 19-8-1945
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Hồng quân Liên Xô đã quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Béclin, sào huyệt cuối cùng của Đức quốc xã.
Ở mặt trận Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng bị nguy khốn. Lợi dụng cơ hội này, bọn Pháp Đờ Gôn (De Gaulle) ở Đông Dương hoạt động ráo riết để khôi phục lại quyền thống trị của chúng.
Biết rõ âm mưu đó, đêm mồng 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ở tỉnh Thanh Hóa, bộ máy thống trị của thực dân Pháp nhanh chóng rệu rã, hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Cuộc xung đột vũ trang giữa Nhật và Pháp tại Thành phố chỉ diễn ra trong chốc lát. Sau vài loạt đạn súng máy của Nhật, thực dân Pháp đã nộp súng đầu hàng. Sau khi đảo chính, phát xít Nhật dựng lên một bộ máy chính quyền bù nhìn.
Ở Thanh Hóa, Nhật dựng Hà Văn Đại làm Tỉnh trưởng. Bộ máy tay sai của Nhật do nhiều đảng viên Đại Việt nắm giữ, nhằm giành giật quần chúng với Việt Minh, họ ra sức lôi kéo tầng lớp trên vào Việt Nam Liên minh kiến thiết độc lập đoàn, thực hiện thuyết Đại Đông Á của Nhật.
Ngay đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) để nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới. Hội nghị đã phân tích nguyên nhân cuộc đảo chính và chỉ rõ Nhật sẽ là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương, nên sự chỉ đạo chiến lược của Đảng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Các hình thức tuyên truyền, cổ động, đấu tranh đều phải chuyển hướng để gấp rút chuẩn bị võ trang khởi nghĩa.
Trước tình hình nạn đói hoành hành, trước vấn đề sống còn của hàng triệu người, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương (9-3-1945) đã quyết định lãnh đạo nhân dân thực hiện khẩu hiệu "đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế", "phá những kho gạo thóc của đế quốc" để giải quyết nạn đói. Đảng coi đây là một trọng tâm công tác, là khâu chính để biến lòng căm thù của nhân dân thành hành động cứu nước, gắn cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật với khởi nghĩa từng phần, thực hiện khẩu hiệu "Chính quyền cách mạng của nhân dân". Thực hiện chủ trương của Hội nghị, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã ra nhiều thông cáo, truyền đơn giải thích cho nhân dân hiểu rõ nguyên nhân của nạn đói chính là chính sách tàn bạo của Nhật, Pháp; chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim không giải quyết được nạn đói; chỉ bằng cách đoàn kết đấu tranh, đánh đổ chính quyền phát xít và tay sai thì mới khỏi đói, khỏi chết đói. Đảng và Mặt trận Việt Minh hô hào nhân dân đứng lên biểu tình chống thu thóc, đòi phát gạo, phá các kho thóc của Nhật, chặn đánh các đoàn thuyền, đoàn xe chuyên chở thóc gạo của Nhật để chia nhau cứu đói,... .
Đáp ứng đúng nguyện vọng của toàn dân, giải quyết từng mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội nước ta, chủ trương của Đảng đã lôi cuốn hàng triệu  quần chúng vào phong trào phá kho thóc, chống đói với nhiều hình thức từ thấp đến cao, phong phú và sáng tạo.
Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị xác định rõ : “Nhiệm vụ trước mắt là gấp rút chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước” và Khẩu hiệu hành động là “Đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ Đảng phải "Thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa", phải cổ động quần chúng mạnh dạn lên mặt trận đấu tranh, tập dượt cho quần chúng  mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa  nhằm “Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.
Chỉ thị được đề ra đúng lúc chính quyền địch ở cơ sở đang hoang mang dao động, đúng lúc nạn đói ở Thanh Hóa diễn ra nghiêm trọng, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người nghèo khổ, bởi vậy nhanh chóng có sức hiệu triệu to lớn, thôi thúc mọi người dân đứng lên một phen sống chết với kẻ thù Nhật-Pháp.
Tháng 4-1945, Tỉnh ủy Thanh Hóa nhận được Chỉ thị Nhật –Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Trung ương Đảng, đã khẩn trương mở hội nghị thống nhất vận dụng trong hoàn cảnh của tỉnh.
Vấn đề trọng yếu lúc bấy giờ là làm sao có đủ cán bộ cung cấp cho phong trào trong khi hơn 300 tù chính trị đang bị giam giữ ở nhà lao Thanh Hóa. Một mặt, Ban lãnh đạo tù chính trị tổ chức cho nhiều người vượt ngục. Mặt khác, Việt Minh Thành phố tổ chức biểu tình tuần hành, nêu cao khẩu hiệu đòi “thả tù chính trị phạm” để gây sức ép với Nhật. Đồng thời tận dụng sự thân quen của một số đảng viên Tân Việt cũ nay là đảng viên Đại Việt, yêu cầu Nhật thả tù chính trị với lý do “những người này đã tranh đấu cho nền độc lập Việt Nam”. Nhật tiến hành xét xử vụ rải truyền đơn của học sinh trường Bưởi. Trước phiên tòa, cả 12 người – trong đó có các đồng chí Trương Khâm, Đỗ Trọng Thuận đều đồng thanh nêu rõ: “Mục đích đấu tranh của chúng tôi là giành độc lập cho dân tộc. Nay Chính phủ mới đã tuyên bố Việt Nam độc lập, vậy thì chúng tôi không phải là người có tội mà lại là người có công”. Trước lý lẽ đó, chủ tọa phiên tòa phải tuyên bố trắng án, mọi người được tự do trở về địa phương.
Tiếp sau đó là việc trả lại tự do cho các tù chính trị khác, mọi người trở về quê cũ, hòa mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng theo sự tổ chức của Việt Minh do Đảng Cộng sản lãnh đạo để thực hiện giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau cuộc đảo chính của Nhật, đồng chí Lê Tất Đắc từ nhà giam ở Hà Nội về Thanh Hóa. Đồng chí Phạm Văn Sáu từ nhà tù Buôn Ma Thuột trở về. Đồng chí Nguyễn Đình Thực bị địch giam từ tháng 4-1944 thoát khỏi nhà lao.
Đồng chí Lê Tất Đắc về Lò Chum bắt liên lạc với gia đình đồng chí Nguyễn Đình Thực và giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Yêm phụ trách công tác thanh niên; Nguyễn Thị Bích Thủy phụ trách công tác phụ nữ; Võ Đức Suyện (Hồ Lịch) thôi học ở trường Bưởi tham gia vào liên đoàn học sinh làm công tác văn hóa từ thiện; Vũ Đình Chung lợi dụng tổ chức Vovinam (Võ Việt Nam) làm vỏ bọc để huấn luyện tự vệ. Các anh Trần Nhật Huy, Trần Quang Huy, Lê Văn Bảng, Lê Trọng Nghĩa,… những trưởng nhóm Vovinam hướng dẫn hội viên luyện tập đều đặn.
Nhận rõ dã tâm của phát xít Nhật, rút kinh nghiệm về hoạt động công khai thường bộc lộ lực lượng rất nguy hiểm, nên Việt Minh Thành phố quy ước ngặt nghèo việc giữ giới hạn “nhóm 3 người” thì nhất thiết không trao đổi công việc với nhau. Nhờ vậy, khi nhóm học sinh trường Bưởi bị bắt, không lây lan rộng sang các nhóm khác trong Thành phố.
Tin tức khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng khu giải phóng,… qua báo chí và người buôn bán đi khắp nơi đem về, một mặt làm cho các tầng lớp nhân dân lao động Thành phố vô cùng phấn khởi, sẵn sàng hành động theo Việt Minh để giành chính quyền, mặt khác cũng làm cho những kẻ thuộc tầng lớp thống trị hoang mang, dao động, tinh thần suy sụp rõ rệt. Lúc này Hội Phụ nữ cứu quốc phát triển khá rộng khắp, như nhóm chị Túy Nga ở Cầu Sâng, nhóm chị Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Ân ở Bào Nội, nhóm chị Trâm, chị Bốn, chị Thôn ở Lò Chum, nhóm chị Đông ở phố Nhà Thương, nhóm chị Phượng ở phố Ngang, nhóm chị Nghiên ở phố Cửa Tiền, nhóm chị Trúc Nhự ở phố Cửa Tả, nhóm chị Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Sáu ở phố Dốc Ga… Ngoài việc tổ chức chuyền tay nhau đọc sách báo cách mạng, các chị còn quyên góp ủng hộ Việt Minh được một đôi khuyên vàng và 200 đồng Đông Dương, thu được 4.000 đồng Đông Dương về bán tín phiếu Việt Minh với mệnh giá 200 đồng một tờ phiếu.
Nhận Chỉ thị Sắm sửa vũ khí đuổi thù chung của Tỉnh bộ Việt Minh, các nhóm Thanh niên cứu quốc trong Thành phố hăng hái luyện tập võ thuật,  sắm sửa vũ khí thô sơ chuẩn bị giành chính quyền. Đó là các nhóm: Phan Văn Duệ (Cửa Tiền), Lê Kinh Hùng (Phố Ngang), Lê Xuân Tương (phố Huế), Lê Huy Hoạt (phố Pônbe - Paul Bert), Lê Liên Cảnh, Lê Liên Huyền, Nguyễn Thị Tùng (phố Lò Chum), Nguyễn Thế Kỷ, Vũ Tiến Thọ, Nguyễn Thiếu Quý (phố Ga), Lê Đình Bộc (Nhà máy Đèn); các nhóm Công nhân cứu quốc: Tô Ân (thợ may), Trịnh Công Song (xe kéo), Nguyễn Thị Hợp (xe ba gác).
Trong quá trình hưởng ứng và thực hiện Chỉ thị trên, nhóm Thanh niên cứu quốc ga Thanh Hóa đã phối hợp với Trưởng ga cũng là nhóm viên Việt Minh, vào một đêm tối trời cuối tháng 4 đã cắt 2 toa xe cuối cùng trong đoàn tàu quân sự của Nhật, rồi thay vào đó bằng 2 toa chở đầy đá núi Nhồi. Khi đoàn tàu chuyển bánh về phía Nam, trời vẫn mưa tầm tã, các nhóm Tự vệ cứu quốc nhà Ga đã tháo dỡ 2 toa tàu quân sự, một toa vải bạt che ô tô và máy bay, một toa súng trường không có đạn. Ngay đêm hôm đó anh em đã chuyển hết hàng giao cho Việt Minh tỉnh.
Nhóm Thanh niên cứu quốc Nhà máy Đèn thông qua việc kiểm tra đồng hồ đo điện để trinh sát các trại lính Nhật, lính Bảo an, nắm tình hình quân số, trang bị vũ khí địch báo cho Việt Minh. Sau Nhật đảo chính, chủ Tây đã bị bắt, còn lại Hoàng Văn Ngọc thì hoang mang, dao động. Nhưng nhóm Việt Minh nhà máy do Võ Nguyên Lượng chỉ đạo vẫn đảm bảo cung cấp điện, nước sinh hoạt cho nhân dân, không để chính quyền địch vào kiểm tra, kiểm soát nhà máy.
Tháng 7-1945, đồng chí Lê Tất Đắc được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ chủ trì việc kiện toàn Ban Cán sự Việt Minh Thành phố do đồng chí Phạm Văn Sáu làm Trưởng ban.
Đầu tháng 8-1945, bộ máy chính quyền tay sai của Nhật rệu rã. Một số công chức bỏ việc về nhà, lính Bảo an đào ngũ. Phong trào cách mạng trong Thành phố ngày càng lên cao, đòi hỏi có sự chỉ đạo sát sao, thống nhất và chặt chẽ hơn của Mặt trận Việt Minh.
Chiều ngày 13-8-1945, Hội nghị Tỉnh ủy ở Mao Xá (Thiệu Hóa). Nhận được tin Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, Hội nghị đã căn cứ vào Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm 7 ủy viên, đồng chí Lê Tất Đắc làm Trưởng ban, chỉ định Ủy ban nhân dân lâm thời cách mạng Tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Lê Tất Đắc làm Chủ tịch (Thành phố có 1 người tham gia Ủy ban là đồng chí Nguyễn Đình Thực, Ủy viên tư pháp); chỉ định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố và 12 huyện miền xuôi, đồng thời quyết định thời gian khởi nghĩa vào đêm 18 rạng ngày 19-8-1945.
Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 13-8-1945 và Quốc dân Đại hội Tân Trào, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, cử Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ngày 16-8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh nhân danh Ủy ban dân tộc giải phóng gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi đồng bào cả nước, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Không khí khởi nghĩa sục sôi trong cả nước và Tỉnh Thanh Hóa.
Đêm 16-8-1945, đồng chí Lê Tất Đắc viết thư gửi Chỉ huy Quân đội Nhật yêu cầu không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, đồng thời yêu cầu họ phải tập trung quân về một địa điểm.
Sáng 17-8-1945, đồng chí Phạm Văn Sáu trực tiếp gặp chỉ huy quân đội Nhật để giao lá thư của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh. Cuộc đấu trí vừa mềm mỏng, vừa kiên quyết, diễn ra gần hết buổi sáng đã thuyết phục được quân Nhật đồng ý rút quân về đóng ở nhà Dòng và không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam.
Chiều 17-8-1945, Đại Việt tổ chức mít tinh nhằm trấn an công chức, binh lính và lôi kéo quần chúng. Giữa lúc Đại Việt vừa tập hợp xong quần chúng thì đồng chí Nguyễn Văn Yêm đã thổi một hồi còi dài, rồi hô các khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập”, “Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”, “Ủng hộ Việt Minh”... Rất nhiều tiếng hô cùng hưởng ứng. Việt Minh Thành phố đã biến cuộc mít tinh của Đại Việt thành cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh.
Tối 17-8-1945, nhận được tín hiệu đầu hàng của Tỉnh trưởng, đồng chí Phạm Văn Sáu khẩn cấp triển khai công tác tuyên truyền nhằm thăm dò dư luận thái độ quân đội Nhật, lính Bảo an và cả bộ máy chính quyền bù nhìn. Nhiều tờ áp phích chép lại bức thư của Việt Minh tỉnh gửi quân đội Nhật được viết bằng cả chữ quốc ngữ và chữ Hán đem dán ở các bờ tường lớn ngã ba, ngã tư đường phố. Các anh Vũ Đình Chung và Lê Xuân Phùng được phân công kiểm tra nắm chắc mọi động tĩnh của Bảo an binh và huy động lực lượng tự vệ Vovinam chuyển thành lực lượng tự vệ Việt Minh. Chị Bích Thủy cùng với chị Nguyễn Thị Trâm được phân công may cờ đỏ sao vàng và phù hiệu tự vệ…
Sau vụ phá mít tinh do Đại Việt tổ chức, đồng chí Nguyễn Văn Yêm và Võ Đức Suyện (Xuyện) đã tạm lánh mặt để tránh sự trả thù của chúng, hôm sau mới trở về nhà. Đồng chí Lê Liên Giao, Võ Đức Suyện nhận nhiệm vụ viết khẩu hiệu, áp phích.
Tối 18-8-1945, đã diễn ra Hội nghị mở rộng tại nhà đồng chí Lê Liên Giao do đồng chí Phạm Văn Sáu chủ trì. Sau khi kiểm tra tình hình mọi mặt, phân tích, so sánh lực lượng, các đồng chí dự họp nhận thấy quân đội Nhật tỏ thái độ muốn được an toàn để rút về nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam. Song, ta vẫn phải đề phòng vì chúng chưa thực sự rút hết quân về địa điểm tập kết.
 Lực lượng Bảo an binh do Quản Hiến chỉ huy, sau bốn lần đại bại ở Hoằng Hóa đã phải nhục nhã rút quân về Thành phố, song vẫn còn cử Đội Thuật dẫn một đội quân lên Thiệu Hóa chống phá khởi nghĩa.
Dù sao trong Bảo an binh vẫn còn nhóm Binh sĩ cứu quốc làm nội ứng, còn hệ thống chính quyền tay sai cấp thành phố và cấp khu phố hầu như tan rã. Tỉnh trưởng thì lo sợ bị bắt, bị tù đày, thậm chí còn sợ bị giết. Về phía cách mạng, Việt Minh đã thống nhất một đầu mối lãnh đạo, điều hành, chỉ huy thông suốt, vụ phá mít tinh do Đại Việt tổ chức chiều 17-8 có tiếng vang trong nhân dân, việc dán áp phích trong ngày 18-8 không gặp phản ứng của địch, quần chúng cách mạng hồ hởi chờ lệnh tổng khởi nghĩa.
Xuất phát từ tình hình trên, Hội nghị thống nhất phương châm hành động là Kiên quyết nhưng không quá khích, nhanh gọn nhưng không nóng vội, khôn khéo mà không máy móc cứng đờ.  Các công việc phải làm gấp là xác định đối tượng chính phải loại bỏ là Bảo an binh và Tỉnh trưởng, tích cực chuẩn bị mọi mặt để quân Nhật rút tới đâu thì tiến quân khởi nghĩa tới đó, thành lập Ban Chỉ đạo khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Phạm Văn Sáu, Nguyễn Văn Yêm, Vũ Đình Chung, Lê Xuân Phùng và Nguyễn Thị Bích Thủy. Ban Chỉ đạo phân công cụ thể: đồng chí Phạm Văn Sáu và Nguyễn Văn Yêm tiếp nhận sự đầu hàng của Tỉnh trưởng; Lê Xuân Phùng, Vũ Đình Chung tước khí giới của Bảo an binh, Bích Thủy lo hậu cần… Những người dự Hội nghị thì tùy khả năng cụ thể được phân công phụ trách công việc phù hợp.
Về lực lượng vũ trang, huy động toàn bộ lực lượng Vovinam thành đơn vị Tự vệ chiến đấu, được trang bị vũ khí thô sơ tự tạo, huy động một lực lượng quần chúng tuần hành thị uy hỗ trợ lực lượng tự vệ chiến đấu.
Sáng ngày 19-8-1945, quân đội Nhật lần lượt rút về nhà Dòng, nhưng vẫn giữ trạm gác ở ngã tư đường Tòa sứ. Trưởng Ban chỉ đạo khởi nghĩa Thành phố Phạm Văn Sáu trực tiếp đến gặp chỉ huy quân đội Nhật. Họ đồng ý rút hết quân về nhà Dòng với điều kiện lực lượng tự vệ cách mạng phải đóng xa nơi họ tập kết ít nhất là 500m, đồng chí Phạm Văn Sáu đã chấp nhận.
Lực lượng Tự vệ tham gia khởi nghĩa đã được chuẩn bị sẵn sàng và triển khai nhanh theo 2 mũi tiến công.
Mũi tiến công thứ nhất: Do các đồng chí Vũ Đình Chung và Lê Xuân Phùng chỉ đạo, Võ sư Vũ Thức chỉ huy quân sự, Nguyễn Khắc Thiệu chính trị viên. Lực lượng tự vệ ngồi trong 2 xe ô tô ca, tiến qua Cửa Hậu vào chiếm trại Bảo an binh. Nhờ làm tốt công tác binh vận nên mặc dù bọn chỉ huy có lệnh đóng cổng thành, nhưng không ai chấp hành. Lực lượng vũ trang cách mạng nhanh chóng áp sát trại Bảo an binh. Toàn thể bọn quản, đội, cai và số lính đang còn lại cùng với 30 khẩu súng mà phần lớn là súng săn (súng mousqueton đã bị bọn Nhật tước đi hồi đảo chính) đã nộp vũ khí đầu hàng. Các đồng chí Vũ Đình Chung, Lê xuân Phùng giải thích chính sách Mặt trận Việt Minh, tuyên bố giải tán lực lượng Bảo an binh, cho anh em về sinh hoạt với gia đình. Lê Xuân Phùng giữ toàn bộ chìa khóa doanh trại và cùng một số anh em trong đơn vị tự vệ ở lại kiểm soát doanh trại.
Mũi tiến công thứ 2: Do các đồng chí Phạm Văn Sáu và Nguyễn Văn Yêm chỉ huy vào chiếm Tòa sứ, nơi làm việc của Tòa Giám binh Nhật (khu chợ Vườn Hoa cũ hiện nay). Người vác cờ đi đầu đoàn tuần hành là Lê Xuân Tương. Vũ Tiến Thọ chỉ huy tự vệ. Đoàn quân tiến thẳng vào Tòa sứ, không gặp một hành động chống đối nào. Một phân đội tự vệ do đồng chí Vũ Tiến Thọ chỉ huy hộ vệ Nguyễn Văn Yêm cùng đi ngược đường trở lại Cửa Tả đi vào dinh Tổng đốc cũ. Tỉnh trưởng Nguyễn Trác nhanh chóng đầu hàng, giao nộp con dấu, hồ sơ tài liệu và 6 khẩu súng lục cho lực lượng cách mạng. Nguyễn Văn Yêm tiếp nhận và trao lại cho Vũ Tiến Thọ bảo quản để sau đó giao nộp cho Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh. Đơn vị tự vệ dẫn Nguyễn Trác về tạm giữ ở tầng 2 nhà ở của Công sứ cũ để chờ giải quyết.
Việc giành chính quyền tại thành phố tỉnh lỵ thực chất là do lực lượng cách mạng Thành phố được Việt Minh tổ chức và chỉ đạo đã tiếp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của Tỉnh trưởng và lực lượng Bảo an binh. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, không có đổ máu là do Việt Minh Thành phố chớp đúng thời cơ, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ và kiên quyết.
Tối 19-8, sau khi giành được chính quyền, Ủy ban khởi nghĩa Thành phố họp hội nghị mở rộng, lập ra Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố do đồng chí Phạm Văn Sáu làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Văn Yêm và y sĩ Lê Kiểu - một nhân sỹ trí thức làm Phó Chủ tịch, các ủy viên là những đại biểu cho các giới thanh niên, phụ nữ, công nhân, công thương, giáo giới…
Công việc khẩn thiết lúc bấy giờ là thiết lập chính quyền nhân dân tại các khu phố, từ 7 phường cũ đã chuyển thành 10 khu phố, từ khu phố 1 đến khu phố 10, thay đổi tên đường phố cho phù hợp với bối cảnh mới sau ngày nước nhà độc lập.
Sáng 20-8, các đồng chí được phân công đã tiếp nhận các công sở quan trọng: Nguyễn Khắc Thiệu, Lê Đình Huyến, Trần Nhật Quang tiếp quản Sở Cẩm đổi tên thành Công an tự vệ cục; Vũ Đình Chung tiếp quản Sở Liêm phóng đổi tên thành Trinh sát viện;  Nguyễn Xuân Lênh tiếp quản Nhà dây thép (Bưu điện); Võ Đức Suyện tiếp quản Nhà thông tin Thành phố đặt tại nhà Bác Cổ (Công ty phát hành sách hiện nay). Riêng Kho bạc và Nhà lao phải chờ sự chỉ đạo của Tỉnh.
Chiều ngày 20-8-1945, tại vườn hoa Độc lập (khu đất giới hạn bởi các đường: Lê Hữu Lập, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, đại lộ Lê Lợi hiện nay), Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Thành phố ra mắt đông đảo nhân dân. Chủ tịch Phạm Văn Sáu đọc tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, bảo vệ và ủng hộ chính quyền nhân dân; Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Yêm đọc lời kêu gọi Thanh niên gia nhập Thanh niên cứu quốc, tham gia các đội tự vệ giữ gìn trật tự an ninh trong Thành phố, hăng hái luyện tập quân sự bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đồng chí Nguyễn Thị Nghiên giới thiệu thành tích phụ nữ đấu tranh trong thời kỳ bí mật, kêu gọi chị em đoàn kết trong Hội Phụ nữ cứu quốc, ủng hộ cách mạng.
Những ngày tiếp theo đó là sự chuẩn bị sôi nổi đón chính quyền cách mạng cấp tỉnh về Thành phố. Các thành viên trong Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Thành phố chia nhau về các khu phố thành lập chính quyền cách mạng, phổ biến chính sách của Việt Minh, bầu Uỷ ban nhân dân lâm thời khu phố, kết nạp thanh niên vào tự vệ, lập nên các trung đội ở từng khu phố, học các bài hát cách mạng: Tiến quân ca, Bài ca chiến sĩ, Diệt phát xít, Nhớ chiến khu…, vận động các hiệu vải ủng hộ hoặc bán chịu vải đỏ, vải vàng, vận động các hiệu may may cờ đỏ sao vàng, thêu phù hiệu tự vệ chuẩn bị đón chính quyền cách mạng tỉnh và Cứu quốc quân từ căn cứ Thiệu Hoá về tỉnh, điều động lực lượng giao thông công chính tu sửa đường từ Rừng Thông về Thành phố, vận chuyển 30 khẩu súng thu được của bảo an binh lên Ngô Xá bàn giao cho Cứu quốc quân… Bộ phận hậu cần do các chị Nguyễn Thị Trâm, Bích Thuỷ, chị Sự, chị Sáu… đảm nhiệm việc đặt mua lương thực, thực phẩm, mượn nồi chảo, xanh loại lớn, bát đũa…, huy động người nấu bếp, chuẩn bị để đón Cứu quốc quân…
Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 23-8-1945, đoàn Cứu quốc quân đầu trần chân đất, bắp chân quấn xà cạp, vai đeo mã tấu, mác lào, đội ngũ chỉnh tề… từ làng Ngô Xá, Thiệu Hoá xuống Rừng Thông đi bộ chừng 11 km, theo đường dốc Ga tiến về Quảng trường bến xe ô tô Thành phố (khu ngã 5 trước trụ sở Ủy ban nhân dân  Tỉnh hiện nay). Tự vệ và nhân dân các huyện Quảng Xương, thị trấn Sầm Sơn kéo lên; Nông Cống cùng ra; Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hoá kéo sang… Dòng người đổ về Thành phố chật cứng cả quảng trường, lắng nghe Chủ tịch Lê Tất Đắc đọc “lời tuyên ngôn của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hoá”.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Thành phố trước hết là do có đường lối, chủ trương đúng đắn và sáng suốt của Trung ương Đảng, sự vận dụng kịp thời, sáng tạo của Tỉnh uỷ Thanh Hoá, sự chỉ đạo cương quyết, nhạy bén của Uỷ ban khởi nghĩa Thành phố và sự đóng góp to lớn của nhân dân Thành phố. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thành phố được cao trào cách mạng trong Tỉnh và cả nước hỗ trợ tích cực, đã giành thắng lợi hoàn toàn.
          Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, sau 15 năm dưới ánh sáng cách mạng của Đảng, nhân dân Thành phố đã cùng với nhân dân trong tỉnh, trải qua nhiều phong trào đấu tranh, tập trung sức xây dựng cơ sở cách mạng, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đấu tranh gian khổ và ác liệt, đã vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trên địa bàn. Cách mạng thành công, nhân dân Thành phố thoát khỏi ách nô lệ của thực dân phong kiến, trở thành người làm chủ quê hương. Đó là cơ sở, nguồn động lực mạnh mẽ và quý báu để nhân dân Thành phố, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng bước vào một thời kỳ mới, ngày càng phát triển cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng Tỉnh Thanh Hóa và cả nước.


Theo Lịch sử Thanh Hoá, Tập V, trang 15.
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb Sự thật, Hà Nội 1975. Trang 62.
Nguyễn Văn Đắc (1909- 1930) quê gốc tỉnh Hưng Yên. Năm 1917 mẹ đưa anh vào Thanh Hoá theo học Trường Tiểu học Đông Sơn, thêm hai năm trung học, năm 16 tuổi ra làm trợ giáo trường Dụ Côn, trường Hoà Chúng (Quảng Xương). Năm 18 tuổi anh được chọn đi huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc) với bí danh Cao Hoài Nghĩa. Tại lớp học và sau khi về nước hoạt động cách mạng anh có các bí danh khác là Nguyễn An, Trần Nhu. Anh học cùng một lớp huấn luyện với Trần Phú, học xong, anh được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, được phân công sang Thái Lan vận động cách mạng trong Việt kiều, sau đó về nước hoạt động tại Thị Cầu (Bắc Ninh). Năm 1928, anh bị địch bắt, bị chúng tra tấn dã man và kết án 3 năm tù, đày đi Côn Đảo. Anh hy sinh tại Côn Đảo ngày 27-12-1930. Năm 1958, Chính phủ truy tặng bằng Tổ quốc ghi công Liệt sĩ Nguyễn Văn Đắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Riêng Nguyễn Văn Khang chưa tìm được tiểu sử.
Chuyến thứ hai đi vào tháng 9-1926. Chuyến thứ ba đi vào cuối năm 1926.
Cụ Nam - tức Trần Thị Nam, tên khai sinh là Tạ Thị Tý (1876- 1966) quê thôn Đông Cầu, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tháng 2-1927, sau khi anh Đắc con trai cụ Nam xuất dương sang Quảng Châu, Cụ được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Cụ là người giữ mối liên lạc từ Tổng bộ đến Kỳ bộ, Tỉnh bộ và sau này là Trung ương đến Xứ uỷ. Có thời gian Cụ tham gia bảo vệ sự hoạt động của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Cụ đã đi thăm tù chính trị ở khắp các nhà tù từ Bắc vào Nam để nối liên lạc. Cụ đã nhiều lần bị địch bắt giam. Cụ được triệu tập dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào, lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Cụ là Uỷ viên Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh, phụ trách cứu tế xã hội, Hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ, Hội trưởng đầu tiên của Tỉnh Hội liên hiệp phụ nữ Thanh Hoá. Năm 1996, Cụ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Sinh thời Cụ ở nhà số 33 Trần Phú, xóm 4 khu phố 4 (nay là phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá). Mộ phần Cụ đặt tại Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng.
Phạm Đức Bân, một thầy giáo nghèo, giàu lòng yêu nước, con ông Thủ từ đền bên cạnh dinh Bang tá ở phố Cửa Tả.
Dẫn theo: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 1930 – 1954, tr.59
Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh – 1917 -1948) sinh ngày 28-7-1917 tại làng Thượng Thạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, là con ông Nguyễn Xuân Tuyển và bà Phạm Thị Nhạ. Theo gia đình về phường Đệ Ngũ Thành phố Thanh Hoá, năm 1931 là học sinh lớp Đệ nhất niên trung học Thanh Hoá.
Bùi Kính Thăng, sinh 13-8-1918 tại làng Diên Hy, tổng Đa Lộc, huyện Yên Định; năm 1933 vào học lớp Đệ nhất trung học Thanh Hoá.
Nguyễn Đắc Giới (Thôi Hữu 1914- 1954) quê làng phú Thọ tổng Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá, học trung học Thanh Hoá từ năm 1934.
Báo Trung Bắc Tân văn, số 5631, ngày 31-1-1936.
Sách Những sự kiện lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá (1925-1945), 1978, tr.72, 73.
5 vị dân biểu do Mặt trận giới thiệu đã trúng cử là: Hoàng Văn Khải (Thiệu Hoá), Nguyễn Đan Quế (Vĩnh Lộc), Lê Mậu Biên và Nguyễn Duy Cừ (Hoằng Hóa), Lê Khắc Đông (Tĩnh Gia) - có tài liệu ghi là Lê Nguyên Phong).
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB CTQG, H,2000, T.7, tr.58
Ở thị trường, 27 quan 1 tạ thóc, nạp cho Nhật chỉ trả 7 quan 1 tạ. Quan là 100 đồng tiền, 1 đồng bạc Đông Dương đổi 60 đồng tiền đồng.
Trước năm 1945 người Pháp bắt học sinh Việt Nam phải công nhận nước Pháp là mẫu quốc.
Xitaspo là viết tắt 2 chữ Pháp Citadelle sport, nghĩa là Hội thể thao tỉnh Thanh Hoácó trụ sở đặt trong thành tỉnh.
Nhật dùng chức Tỉnh trưởng, Huyện trưởng thay thế cho chức tổng đốc, tri phủ, tri huyện.
Đảng Cộng  sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.370.
Đảng Cộng  sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.370.
. Báo Cờ Giải phóng số 14 (28-6-1945) kêu gọi "không nộp thóc cho Nhật, không bán thóc cho các nhà thầu của Nhật; giàu nghèo đoàn kết chống lính Nhật thu "thóc tạ"; phá các kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo: tiến lên đuổi Nhật ra khỏi nước. Chỉ bằng những cách ấy, chúng ta mới khỏi chết đói mà thôi. Dẫn theo: Ngọn cờ Giải phóng, NXB Sự Thật, H, 1974, tr.89.
Đồng chí Nguyễn Đình Thực cùng gia đình đang chuẩn bị đón đồng chí Tố Hữu, Trương Văn Lĩnh và một đồng chí Nam Bộ ra Bắc bắt liên lạc thì bị địch bắt.
Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá (1925-1945) trang 225.
Bà Trần Thị Nam, cơ sở cách mạng của Trung ương Đảng  Lò Chum - Thanh Hóa được mời về Tân Trào dự Đại hội Quốc dân ngày 16-8-1945.
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, t.3, tr.553-554
Khu vực trường Trung học phổ thông chuyên Lam Sơn hiện nay.
Ngã tư Bưu điện hiện nay.
Ngã tư Nhà hát Lam Sơn vào đường Hạc Thành đến trạm công tác trên tầu hỏa hiện nay.