CHƯƠNG V LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN VỪA SẢN XUẤT, VỪA CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC THẮNG LỢI (1965- 1975)

Ngày 01/11/2014 16:05:57

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

I. CHUYỂN HƯỚNG HOẠT ĐỘNG SANG THỜI CHIẾN, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN  TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA  ĐẾ QUỐC  MỸ (1965-1968)

          Sau những thất bại thảm hại liên tiếp của chính quyền và quân đội Sài Gòn - nhất là từ sau cuộc Đồng khởi của quân và dân ta ở miền Nam năm 1960, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ hoàn toàn sụp đổ. Trước tình hình đó, để cứu vãn thế thua, đế quốc Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa ồ ạt quân Mỹ vào miền Nam, đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Trước sự thay đổi chiến lược chiến tranh của Mỹ-ngụy và sự phức tạp của tình hình quốc tế, ngày 25-3-1965, Ban Chấp hành Trung Đảng (khóa III) đã tiến hành Hội nghị lần thứ 11, đề ra nhiệm vụ cho cả hai miền Nam – Bắc; đồng thời sẵn sàng đánh thắng “Chiến tranh cục bộ” nếu chúng mở rộng cả hai miền. Tiếp tục huy động lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam và cách mạng Lào.

Miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn và trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vì vậy phải chuyển hướng xây dựng nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, mỗi vùng có thể tự bảo đảm một phần nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, sinh hoạt, học hành. Chuyển hướng công tác tư tưởng và tổ chức đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất, vừa chiến đấu với khẩu hiệu “Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam”.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Thanh Hóa, Thị ủy kịp thời chỉ đạo toàn Đảng bộ, quân và dân Thị xã sẵn sàng đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chuyển hướng công tác tư tưởng, tổ chức, chuyển hướng phát triển kinh tế, văn hóa, giao thông vận tải sang thời chiến.

Thanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là địa bàn chiến lược trọng yếu, chiếc “giáp sắt” bảo vệ Thủ đô Hà Nội; kho dự trữ chiến lược; chiếc cầu nối giữa miền Bắc với miền Nam. Vì vậy Đế quốc Mỹ luôn coi Thanh Hóa là trọng điểm đánh phá trong chiến tranh phá hoại, đặc biệt trên tuyến đường chi viện từ miền Bắc vào Nam và sang Lào. Giới quân sự Mỹ coi Hàm Rồng là điểm tắc lý tưởng, là “đầu mút cán xoong”, nên Thị xã Thanh Hóa trở thành một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của Tỉnh Thanh Hóa nói riêng và miền Bắc nói chung.

Từ sau ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ liên tục cho máy bay trinh sát bầu trời, đặc biệt là các tuyến đường giao thông chiến lược, khu vực quân sự và kinh tế tập trung, trong đó Thị xã Thanh Hóa và khu vực Hàm Rồng là một trọng điểm giặc Mỹ xác định sẽ tập trung đánh phá.

Ngày 13-2-1965, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn duyệt kế hoạch “Sấm rền” quyết định leo thang ném bom ra miền Bắc đến vĩ tuyến 19.

Ngày 2-3-1965, chúng cho máy bay xâm phạm bầu trời Thanh Hóa, bắn đạn 20 ly, rốc két xuống các huyện Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Xuân. Đồng thời cho máy bay nhiều lần trinh sát khu vực Hàm Rồng và Thị xã. Thị xã Thanh Hóa và toàn miền Bắc đã thực sự bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Quyết đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngay từ trận đầu. Thị ủy đã tổ chức, tăng cường chỉ đạo các tiểu khu phố, các ngành, các lực lượng trong toàn thị tích cực củng cố thế trận của chiến tranh nhân dân, bổ sung sửa đổi các phương án tác chiến, sơ tán phòng không, các phương án xây dựng phát triển lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1965, trên địa bàn Thị xã Thanh Hóa, tỉnh đã lập Bộ chỉ huy mặt trận Hàm Rồng với nhiệm vụ chỉ huy thống nhất 5 cụm hỏa lực hỗn hợp (cụm phía Bắc, cụm trung tâm, cụm Nam Ngạn, cụm phía Tây Nam, cụm ở 2 mố cầu), mỗi cụm đều có khả năng tác chiến độc lập, đồng thời cùng phối hợp chiến đấu chung.

Được sự giúp đỡ và chỉ đạo của Quân khu III và tỉnh đội Thanh Hóa, Thị đội đã liên tục mở các lớp tập huấn bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh, huấn luyện pháo thủ dự bị, sử dụng khí tài thông tin, khí tài phòng hóa. Cuối tháng 2 năm 1965, trung đội xí nghiệp Mộc xẻ bến Cốc được trang bị khẩu cao xạ 20 ly, được Thị đội giao nhiệm vụ đón đánh máy bay địch từ phía Nam vào Thị xã, khu vực Hàm Rồng và ngược lại. Trung đội nữ dân quân Nam Ngạn được trang bị các loại súng thượng liên, súng trường và bố trí trận địa ở bờ sông Mã, đánh máy bay địch bay thấp từ phía cửa Lạch Trường lên và phối hợp phục vụ hải quân chiến đấu. Lực lượng tự vệ Thị xã đã hình thành 27 tổ bắn máy bay bay tầm thấp.

Nguyên tắc “Ba nên” và “Ba không nên” được Thị đội đưa thành chỉ lệnh cho các đơn vị tự vệ.

Công tác sơ tán phòng tránh đã được Thị ủy chỉ đạo chặt chẽ và chu đáo, nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Khi bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, các ngành đã khẩn trương sơ tán lên xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn.

Trong nội thị đã có 3.916 hộ với 17.398 nhân khẩu, 167 cơ quan xí nghiệp với 9.500 cán bộ, nhân viên sơ tán khỏi Thị xã, phụ huynh học sinh cho con em chuyển về học ở các trường nông thôn. Những nơi nhân dân sơ tán đến đã thành lập Ban đại diện Hành chính để giữ mối liên hệ với Ủy ban Hành chính Thị xã và giải quyết những việc được Ủy ban Hành chính Thị xã ủy nhiệm.

Các lực lượng cơ động phục vụ chiến đấu, các lực lượng đào bới, cứu tải thương được hình thành và có tổ chức chặt chẽ, có người chỉ huy. Một số đơn vị tự vệ hợp đồng cùng lực lượng cảnh sát chốt giữ những điểm quan trọng, để giám sát theo dõi những phần tử xấu, ngăn chặn hành động phá hoại của bọn phản động nội địa, giữ gìn tài sản của Nhà nước và của nhân dân.

Đầu tháng 3-1965, sau khi tham mưu các cấp xác định địa điểm các trận địa chính, phụ cho các loại pháo, khí tài quân sự của bộ đội cao xạ, thì hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ và nhân dân, hàng trăm thầy trò trường cấp 3 Lam Sơn được huy động liên tục ngày đêm đi đào đắp công sự, xây dựng trận địa pháo để đảm bảo cho các đơn vị đưa pháo, khí tài vào trận địa kịp thời. Để nghi binh đánh lừa địch, lực lượng thợ mộc trong các hợp tác xã thủ công nghiệp được huy động sản xuất hàng chục khẩu súng cao xạ bằng gỗ, mẫu mã như súng thật, được sơn đen, đưa đi bố trí ở các mặt trận giả, nhằm phân tán lực lượng địch khi chúng đánh vào trận địa ta. Lực lượng y tế, phòng cháy, chữa cháy của Tỉnh cũng được tăng cường cho Thị xã.

Để hạn chế sự thiệt hại do đế quốc Mỹ gây ra, đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất, vừa chiến đấu, thực hiện Thông báo của Trung ương Đảng ngày 26-6-1965 về việc chuyển hướng kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chuyển hướng phát triển kinh tế - văn hóa - giao thông vận tải, chuyển hướng công tác tư tưởng tổ chức từ thời bình sang thời chiến. Nghị quyết của Tỉnh ủy ngày 20-11-1965 đã ghi rõ: "Chuyển hướng công tác tư tưởng, tổ chức đảm bảo hai nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và quốc phòng, sản xuất xây dựng và chiến đấu nhằm phát huy tiềm lực to lớn toàn diện, đáp ứng yêu cầu của địa phương, của Trung ương và nhiệm vụ quốc tế".

Quán triệt tinh thần thông báo của Ban Bí thư của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy, Thị ủy Thanh Hóa căn cứ vào tình hình cụ thể địa phương đã bàn định kế hoạch triển khai tinh thần trên cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - giao thông vận tải, quốc phòng - an ninh. Các phong trào "Tay búa, tay súng", "Tay cày, tay súng", "Tiếng hát át tiếng bom", "Đảm bảo giao thông thông suốt" đã được phát động rộng rãi với mục đích đánh bại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bảo đảm đời sống nhân dân và xây dựng hậu phương vững mạnh chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Vào hồi 11 giờ 30 ngày 2-4-1965, máy bay địch từ phía Bắc bay dọc đường 1A vào trinh sát khu vực Thị xã, tiếp đó 1 tốp 2 chiếc F101 bay sà thấp lướt qua trinh sát khu vực Hàm Rồng. Đây là ngày địch trinh sát liên tục, nhiều lần ở khu vực Hàm Rồng, thể hiện ý đồ chuẩn bị những đợt đánh phá lớn.

Tối 2-4-1965, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điện thông báo cho Bộ Tư lệnh Quân khu III về việc "Địch sẽ đánh lớn vào Hàm Rồng ngày 3 tháng 4". Bộ Tư lệnh quân khu III điện thông báo nhận định của Bộ và Quân khu xuống Tỉnh đội Thanh Hóa, nhấn mạnh: "Phải đánh chắc, đánh trúng, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, bảo vệ được mục tiêu, tiết kiệm đạn dược".

Thực hiện mệnh lệnh đó, đồng chí Trung tá Thái Tứ, Tỉnh đội trưởng chỉ huy cụm chiến đấu khu vực Hàm Rồng nhanh chóng đưa lực lượng phòng không vào tư thế sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh thắng địch ngay trận đầu. Nhân dân Thị xã Thanh Hóa sơ tán khỏi khu vực. Các ngành Giao thông, Y tế, Lương thực, Thực phẩm, Thương nghiệp chuẩn bị người và phương tiện phục vụ chiến đấu. Dân quân, thanh niên, phụ nữ các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, tiểu khu khẩn trương củng cố hầm hào công sự.

Hội nghị chỉnh huấn mùa Xuân của Thị ủy Thanh Hóa chuyển thành Hội nghị phổ biến mệnh lệnh chiến đấu. Thường vụ Thị ủy quyết định: phân tán nhân dân ra khỏi thị xã 5 km, xóm Nghĩa Phương, Đông Thọ, Đông Tân, Đông Quang, tiểu khu Nam Ngạn sơ tán triệt để. Đúng 21 giờ ngày 2-4-1965, Thị đội triệu tập chỉ huy các đơn vị dân quân tự vệ truyền đạt tình hình nhiệm vụ và quy định mới về chế độ sẵn sàng chiến đấu.

Hai Hội nghị rất quan trọng ấy đã kịp thời phổ biến những mệnh lệnh chiến đấu nóng bỏng đến từng cơ sở, truyền đạt quyết tâm đánh giặc cứu nước đến cán bộ, đảng viên và đến mọi người dân trong Thị xã. Trong hoàn cảnh cực kỳ khẩn trương và gấp rút, sự lãnh đạo chặt chẽ thống nhất, kịp thời của Thị ủy có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Mặt trận bảo vệ Thị xã và khu vực Hàm Rồng được tổ chức thành nhiều lực lượng, tầng lớp: các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; dưới sông có Hải quân; trên trời lần đầu tiên Không quân ta tham chiến. Sự phối hợp đó chứng tỏ ý nghĩa và tầm quan trọng của trận chiến đấu sắp xảy ra. Nhân dân Thanh Hóa nói chung và nhân dân Thị xã Thanh Hóa nói riêng sục sôi ý chí quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ.

Đúng như nhận định của cấp trên, 8 giờ 45 phút ngày 3-4-1965, địch mở cuộc tấn công trước vào Đò Lèn. Đánh Đò Lèn trước, địch hy vọng cắt đứt tuyền đường tiếp tế của ta trước khi đánh Hàm Rồng, đồng thời làm cho ta phải phân tán lực lượng, chúng cho rằng nếu giành thắng lợi ở Đò Lèn sẽ kích thích tính cuồng nhiệt của bọn giặc lái và uy hiếp tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

Nhưng chúng đã vấp phải lưới lửa phòng không nhân dân đánh trả quyết liệt, lại bị không quân ta đánh bất ngờ, nên đến 9 giờ 50 phút máy bay địch phải chấm dứt đợt tấn công vào Đò Lèn. Lần đầu tiên giáp mặt với đế quốc Mỹ có máy bay phản lực hiện đại, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu bắn rơi 5 máy bay, bắt sống 1 tên giặc lái ở Hậu Lộc.

Phán đoán cách đánh của địch nhằm cô lập Hàm Rồng để tiến công dứt điểm, Bộ Tư lệnh Quân khu III điện cho Sở Chỉ huy Cụm chiến đấu Hàm Rồng phải: "Luôn luôn tỉnh táo, địch sẽ đánh vào Hàm Rồng, kiên quyết tiêu diệt địch bảo vệ mục tiêu".

Đúng 13 giờ, không quân Mỹ được huy động với số lượng máy bay và bom đạn lớn nhất đánh phá một mục tiêu nhỏ hẹp là cầu Hàm Rồng và khu vực Thị xã. Từng tốp máy may phản lực đủ các loại F105, F8, RE101 lao vào đánh phá cầu liên tục trong 2 giờ 35 phút. Bầu trời Hàm Rồng và Thị xã vang rền tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, mặt đất rung chuyển bởi những loạt đạn bom hạng nặng dồn dập dội xuống.

Quân và dân Hàm Rồng bám chắc trận địa chiến đấu, với tinh thần quả cảm anh dũng quyết chiến và quyết thắng. Đạn pháo cao xạ các cỡ, đạn súng máy của tự vệ các xí nghiệp Lò Cao, Phân lân, Máy xay, Máy điện ... nổ vang trời như bão lửa bủa vây từng tốp máy bay giặc Mỹ.

Tổ Trung liên Núi Ngọc đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió, ở đây có 3 đồng chí chiến sĩ trẻ: Phạm Gia Huấn, Nguyễn Hữu Nghị và Trần Văn Liền với một khẩu trung liên. Bố trí trận địa này, phía ta nhằm phát huy ưu thế tuyệt đối của địa hình, tạo nên một lưỡi gươm nhọn sắc đâm thẳng vào cổ họng kẻ địch khi chúng bổ nhào ném bom. Sau vài lần công kích, địch phát hiện hỏa điểm lợi hại này nên tổ chức nhiều đợt tấn công liên tục. Ba chiến sĩ người bị vùi trong đất, người bị hất ra khỏi công sự, xạ thủ Nghị bị ngất lịm bên chiến hào, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục chiến đấu, mặc dù khắp thân thể rớm máu, cổ họng khát khô.

Trên các hướng khác, địch luồn sâu cũng bị đánh trả dồn dập. Đại đội 2 Pháo cao xạ 37 ly cụm trận địa Nam Ngạn; Đại đội 4 Cao xạ 37 ly thuộc Tiểu đoàn 14 Sư đoàn 350 đóng trên đồi 75; Trung đội 14,5 ly bộ đội địa phương đóng trên đồi 74; Phân đội Hải quân ... cùng các trận địa dân quân tự vệ trong khu vực chủ động phối hợp tạo thành một lưới lửa nhiều tầng, nhiều lớp đập tan mọi thủ đoạn xảo quyệt của địch. Có thể nói mỗi cụm chiến đấu là một lá chắn thép kiên cường, một mũi tấn công mạnh đẩy địch vào thế bị động. Trang bị vũ khí của dân quân tự vệ Hàm Rồng chủ yếu là súng trường K44, một số ít súng trung và thượng liên. Với những thứ vũ khí có trong tay và lòng dũng cảm ngoan cường, các đơn vị dân quân liên tục tấn công máy bay địch, buộc chúng lên cao để bộ đội cao xạ và Không quân ta tiêu diệt.

Để có khả năng đánh địch tốt hơn, tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng đưa súng lên nóc nhà máy. Đây là trận địa táo bạo có một không hai trong chiến tranh, anh em chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận thương vong để đánh địch bảo vệ mục tiêu. Cuộc chiến đấu tiếp diễn nhiều đợt trên khắp các ngả đường khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn, từng tốp dân quân tỏa đi tiếp đạn, tải thương, nhiều anh chị em chèo thuyền đưa đạn, chở pháo thủ dự bị đến từng trận địa. Các mẹ, các chị trong thôn xóm, các nhân viên mậu dịch quốc doanh tổ chức nấu cơm nước đưa ra từng trận địa cho bộ đội và dân quân. Các em thiếu nhi tiếp lá ngụy trang, tham gia tiếp đạn cho bộ đội hải quân, như hai chị em Lê Thị Các, Lê Thị Mai, học sinh lớp 9 Trưởng cấp 3 Lam Sơn. Sư bà Đàm Thị Xuân trụ trì chùa Nam Ngạn đã bố trí nhà chùa làm nơi cấp cứu, điều trị thương binh.

Đến 17 giờ 11 phút, sau khi 17 máy bay bị tiêu diệt, địch phải ngừng đánh phá. Bất chấp mưa bom, bão đạn của kẻ thù, cầu Hàm Rồng vẫn sừng sững hiên ngang vắt qua đôi bờ sông Mã.



Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá. 

Ba nên: Nên đánh có tổ chức, có chuẩn bị, có chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ thống nhất, nên bắn ở cự lý có hiệu quả của từng loại súng và tiết kiệm đạn dược; nên bắn máy bay địch bổ nhào, máy bay bay thấp.

Ba không nên: Không nên đánh khi chưa có tổ chức chuẩn bị và không có chỉ huy, không nên bắn vuốt đuôi; không nên bắn xa, bắn ẩu, lãng phí đạn dược không đảm bảo an toàn cho đồng đội và nhân dân.

Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Quân khu III những năm tháng đánh Mỹ - Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Quyết - NXB QĐND, 1989, trang 25.

Hàm Rồng chiến thắng, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Thanh Hóa. NXB Thanh Hóa 1980, trang 28.

Biên đội không quân Phạm Ngọc Lan đã bắn rơi 2 máy bay F8 của Mỹ tại Đò Lèn.

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tập II (1954 - 1975). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr156.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/cauhamrongls.JPG

 

Chiến thắng của quân và dân khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn đã làm nức lòng nhân dân cả nước, làm cho không khí trong cơ quan và nhân dân các địa phương sôi động hẳn lên với một niềm tự hào và lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, vào sự chiến đấu dũng cảm của các lực lượng vũ trang. Đây là trận thắng ngay từ đầu, thắng một cách oanh liệt trước cuộc tấn công ồ ạt, hùng hổ đầy thách thức của "sức mạnh không lực Hoa Kỳ" mà chưa mấy ai hình dung trước được.

Ngay sau trận đánh, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Thị ủy và đại diện các ngành, các đoàn thể lần lượt đến từng trận địa động viên cán bộ, chiến sĩ. Từ Hà Nội, nhiều cơ quan Trung ương Đảng, nhà văn, nhà báo, quay phim, nhiếp ảnh... đã có mặt tại tuyến lửa nóng bỏng này. Cả nước hướng về Hàm Rồng, động viên cổ vũ Hàm Rồng đại thắng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thị ủy họp rút kinh nghiệm chiến đấu và xúc tiến mọi hoạt động để động viên tinh thần nhân dân. Sở Chỉ huy Cụm chiến đấu Hàm Rồng cùng với các đồng chí trong Đảng ủy, Chi ủy, xã đội, Thị đội mở Hội nghị rút kinh nghiệm và bổ sung phương án tác chiến. Các ngành Y tế, Bưu điện, Lương thực, v.v... lần lượt cử cán bộ về gặp Ban Chỉ huy cụm nhận kế hoạch phục vụ chiến đấu.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/tuongdaichienthang_namngan.JPG

 

 

Thị ủy chọn 500 tự vệ làm nhiệm vụ chuyển đạn qua sông; 2.000 người được đưa về  phía Bắc cầu để san lấp hố bom, thông đường cho xe qua lại, trên 3.000 người khác làm nhiệm vụ đào đắp công sự giúp bộ đội và dân quân tự vệ. Nhân dân các làng Nam Ngạn, Đông Sơn đỏ đèn, đỏ lửa nấu nước, chặt dừa, đốn lá ngụy trang đưa ra từng trận địa. Từng đoàn công nhân Nhà máy Điện, Lò cao, Xí nghiệp Cưa Bến Cốc, Nhà máy In Ba Đình quên mình kéo pháo, tải đạn, lau chùi vũ khí, làm công sự; cán bộ, công nhân viên ngành Y tế đều hết lòng cứu chữa thương binh và những người bị nạn. Từng đoàn xe chở đạn, kéo pháo nối đuôi nhau hối hả về Hàm Rồng.

Địch không thể ngờ rằng chỉ trong một đêm, bằng sức mạnh diệu kỳ của chiến tranh nhân dân, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, quân dân Thanh Hóa nói chung và quân dân Thị xã nói riêng đã lại ở tư thế sẵn sàng chờ đánh địch khi chúng liều lĩnh quay trở lại.

7 giờ 30 phút ngày 4-4-1965, địch tập trung đánh phá khu vực bến phà Ghép, là nơi xe pháo đang qua sông để hòng tiêu hao lực lượng ta và ngăn chặn lực lượng cơ động ra Hàm Rồng. Tại đây chúng đã bị bộ đội và quân dân hai bờ sông Yên đánh trả quyết liệt, 3 máy bay F105 bị bắn rơi, một tên giặc lái bị bắt sống.

10 giờ 20 phút[1] nhiều tốp máy bay địch từ các hướng thay nhau bổ nhào, dội bom ồ ạt vào khu vực Hàm Rồng. Chúng sử dụng nhiều loại bom nhỏ và bom bi ném như kiểu “gieo hạt” vào mục tiêu, hy vọng tiêu hao lực lượng của ta. Nhưng các lực lượng phòng không đã có nhiều phương án tác chiến đánh trả quyết liệt, với sự phân công tổ chức rất khoa học. Một mặt tăng cường lực lượng cho các trận địa chốt, mặt khác sử dụng loại pháo 57 ly của Đoàn Tam Đảo chặn đánh vòng ngoài. Trên tất cả các hướng, ngay từ lúc còn xa mục tiêu máy bay địch đã bị đánh chặn với lưới lửa phòng không 3 thứ quân, nhiều tầng, nhiều hướng, ở mọi độ cao, từ xa đến gần đã làm cho đội hình chiến đấu của không quân Mỹ bị rối loạn, không thể công kích mục tiêu như dự định. Hoảng hốt trước sự tấn công mãnh liệt của quân và dân ta, bọn giặc lái Mỹ không còn cách nào hơn là phải vút lên cao. Ngay lúc ấy biên đội không quân Trần Hanh xuất hiện hạ liên tiếp 2 chiếc F105 của giặc Mỹ.

Sau 11 đợt công kích, 40 lần bổ nhào bắn phá, địch vẫn không đạt được mục đích, số máy bay bị bắn rơi ngày càng tăng, đến 11 giờ trưa địch phải dừng trận đánh.

Buổi chiều, lợi dụng ánh sáng mặt trời, địch tập trung từ hướng Tây Nam ồ ạt kéo vào tấn công liên tục, bổ nhào cắt bom nhanh để tránh tổn thất. Nhưng quân và dân Hàm Rồng vẫn tỉnh táo, hiệp đồng chặt chẽ giáng trả lại chúng bằng những loạt đạn chuẩn xác, làm cho lũ giặc trời hoảng hốt bạt vía, phải ném bom bừa bãi rồi tháo chạy thoát thân.

Đến 16 giờ, các đợt tấn công của địch chấm dứt. Lại một ngày nữa quân và dân ta giành thắng lợi to lớn, 30 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Không quân Hoa Kỳ đã trải qua những giờ phút đen tối nhất.

Trong hai ngày chiến đấu vô cùng gian khổ và ác liệt, quân và dân Thị xã và Tỉnh Thanh Hóa đã giành thắng lợi to lớn, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ, tinh thần đoàn kết chống giặc, chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta được phát huy cao độ, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam càng tỏa sáng hơn bao giờ hết. Đã có 47 máy bay Mỹ bị bắn rơi và 2 tên giặc lái bị bắt sông (riêng quân và dân Hàm Rồng, Nam Ngạn trong 2 ngày đã bắn rơi 31 máy bay Mỹ)[2]. Cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững cho những đoàn xe nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Thắng lợi của trận đánh điển hình ngày 3 và 4-4-1965 đã làm nức lòng đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Qua đó thể hiện rõ vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự nỗ lực của các cấp ủy cơ sở và của cán bộ, đảng viên với tinh thần tiền phong gương mẫu, đã đoàn kết vận động được toàn dân ra trận, giành thắng lợi lớn ngay từ trận đầu.

Với thắng lợi oanh liệt trong hai ngày 3 - 4-4-1965, quân dân Thị xã và Hàm Rồng, quân và dân Thanh Hóa được Bộ Tư lệnh Quân khu 3 trao cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đánh lớn thất bại thảm hại, đế quốc Mỹ chuyển sang đánh nhỏ, đánh lén đánh ban đêm. Chúng mở rộng phạm vi khu vực và mục tiêu đánh phá vào tuyến giao thông như các nhà ga, đường chiến lược 1A, 15A, 15B, kho tàng và một số nơi tập trung nhân dân đang sản xuất để gây hoang mang trong nhân dân.

Trước tình hình đó, Chỉ huy Mặt trận Hàm Rồng đã có sự tổng kết chính xác về những thủ đoạn và quy luật hoạt động của giặc Mỹ, bố trí lực lượng hai hướng tấn công chính và kiên quyết tiêu diệt địch. Trung tuần tháng 4-1965, Tỉnh đội Thanh Hóa điều 3 đại đội pháo cao xạ 37 ly và 1 đại đội pháo 12,7 ly đến Hàm Rồng. Ngày 15-4 các đại đội 4, 5, 6 thuộc Tiểu đoàn 3 và đại đội 150 tập kết về vị trí Đại đội 4 đóng ở "Đồi không tên", Bãi sỏi, Đại đội 150 súng 12,7 ly đóng ở đê Nam Ngạn.

Sau nhiều ngày trinh sát phát hiện được căn cứ của Hạm tàu Hải quân, 8 giờ sáng ngày 26-5-1965, địch tập trung đánh phá. Để tự vệ, hai Hạm tàu vừa đánh trả máy bay địch, vừa di chuyển lên phía làng Nam Ngạn tranh thủ sự chi viện của pháo cao xạ Hàm Rồng và dân quân Nam Ngạn. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, máy bay địch hết tốp này đến tốp khác đến ném bom, bắn rốc két, tên lửa vào hai hạm tàu, vào trận địa dân quân, vào làng Nam Ngạn. Một số pháo thủ đã bị thương, chiến sĩ dân quân Nam Ngạn lên tàu bổ sung pháo thủ, trong số đó có 3 anh em: Ngô Thọ Xếp, Ngô Thọ Đặt, Ngô Thọ Sáu nhà Cụ Ngô Thọ Lạn. Đến 10 giờ, trên Hạm tàu gần hết đạn, dân quân Nam Ngạn đã vác đạn bơi trên sông ra tiếp tế. Chị Ngô Thị Tuyển không kịp cắt rời hai hòm đạn dính vào nhau, cứ thế vác cùng một lúc hai hòm đạn pháo cao xạ nặng 98kg lên Hạm tàu. Đến 11 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc, 13 chiến sỹ hy sinh (trong đó có Ngô Thọ Sáu), 6 chiến sĩ bị thương nặng. Nhà sư Đàm Xuân đã mở cửa chùa đón thương binh vào cấp cứu, quy tụ thi hài các liệt sĩ để khâm liệm.

Ban Chỉ huy Quân sự Thị xã điều động 17 pháo thủ dự bị của các xí nghiệp: Phân lân, Nam Phát, Máy xay, Máy điện bổ sung cho Hạm tàu, 14 giờ cùng ngày, máy bay địch lại xuất hiện, trút bom xuống mục tiêu, Hạm tàu vươn ra giữa dòng sông, trườn qua lách lại bắn trả máy bay địch. Trên bờ hỏa lực pháo Hàm Rồng và Trung đội dân quân Nam Ngạn bắn trả máy bay địch quyết liệt. Sau gần hai giờ chiến đấu, máy bay Mỹ đã phải tháo chạy, 5 máy bay bị bắn rơi. Về phía ta, Hạm tàu 136 của Hải quân hư hỏng nặng, tập đoàn Cơ khí Nam Kỳ 40 được lệnh huy động, đã cử ngay lực lượng thợ cơ khí có tay nghề giỏi ra tận nơi sửa chữa.

Trận chiến đấu ngày 26-5-1965 là hình ảnh thu nhỏ cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng tạo của Đảng, đã phát huy sức mạnh 3 thứ quân, của chiến tranh nhân dân trong trận chiến.

Ở sát với trận địa pháo cao xạ Hàm Rồng, nhân dân các thôn Đông Sơn, Đông Tác, xóm Đông Quang đã nêu cao tấm gương phục vụ bộ đội chiến đấu và gánh chịu nhiều hy sinh mất mát. Trong hai đêm 31 - 7 - 1965 và 14-9-1965, máy bay Mỹ đã ném bom vào khu vực dân cư sơ tán của làng Đông Sơn làm chết 51 người, 22 người bị thương. Căm thù giặc Mỹ bạo tàn, nhân dân làng Đông Sơn hăng hái ra trận, giúp đỡ bộ đội đánh thắng giặc Mỹ.

Các nhà máy Xay, Gốm Đông Sơn, Phân Lân, Phốt phát, Lò cao, Máy điện, Đội cầu 19/5, Đồn Công an nhân dân vũ trang, Trường cấp II Tô Vĩnh Diện nằm lọt vào giữa trận địa Hàm Rồng, lúc đó có chiến sự xảy ra thì tất cả các đơn vị trên đã được biên chế thành đội ngũ chỉnh tề, người trực tiếp cầm súng chiến đấu, người tiếp đạn, người cứu, tải thương, người đào bới cứu sập hầm ... Trong sản xuất, công nhân Nhà máy điện vẫn phải tìm mọi cách duy trì dòng điện cho Lò nấu gang, phải đảm bảo giữ cho nhiệt độ ổn định, không để nguyên vật liệu trong lò đóng thành xỉ. Tất cả đều xung phong ra trận, họ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để bộ đội và dân quân tự vệ tiêu diệt địch. Đó là sự hiệp đồng quân dân nhịp nhàng và hiệu quả ở khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn.

Tổng kết năm 1965, đế quốc Mỹ đã đánh vào Thị xã và Hàm Rồng 73 trận, ném 1.047 quả bom, bắn 437 tên lửa rốc két, làm chết 93 người, 119 người bị thương, 159 nhà dân bị sập. Thị xã đã huy động 9 vạn ngày công, đào 32 km giao thông hào, xây dựng 1.200 hầm bằng gạch, 3.200 hố cá nhân, đủ chỗ trú ẩn cho 5 vạn người khi có máy bay đến bắn phá[3].

Năm 1965 ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử Đảng bộ và quân dân Thị xã. Trong chiến đấu đã xuất hiện những gương sáng chói chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó  là tập thể Đại đội 4, Đại đội 17 pháo cao xạ 37 ly, khẩu đội pháo Phạm Gia Huấn chốt trên núi Ngọc, các đơn vị tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng, Lò cao, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ, dân quân Nam Ngạn, dân quân tự vệ Xí nghiệp In Ba Đình ... Đó là Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Ngô Thọ Sáu, Lê Thị Dung, 6 cô gái Lò cao đó là: Trần Thị Mai, Nguyễn Thị Phương Định, Nguyễn Thị Hạnh, Tô Thị Tình, Mai Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Bản đã nêu tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm chiến đấu. Với những thành tích trong năm 1965, quân và dân Thị xã Thanh Hóa vinh dự được nhận Cờ thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng. Cũng năm 1965, Đại đội dân quân Nam Ngạn và chị Ngô Thị Tuyển được Nhà nước tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 25 đơn vị và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công từ hạng Ba đến hạng Nhất.

Trong chiến đấu, cơ sở Đảng và đảng viên[4] (nhất là ở khu vực có chiến sự) là lực lượng tiên phong, nòng cốt, chủ động sáng tạo trong việc tổ chức động viên toàn quân, toàn dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Đi đầu trong gian khổ hy sinh, chủ động sáng tạo và dũng cảm trong tổ chức, chỉ đạo chiến đấu và phục vụ chiến đấu là những nét nổi bật nhất của Đảng bộ Thị xã và các chi bộ nơi có chiến sự, đồng thời đó cũng là những nhân tố có ý nghĩa quyết định góp phần vào thắng lợi chung của Đảng bộ và quân dân Thị xã Thanh Hóa nói riêng, của Đảng bộ và quân dân Thanh Hóa nói chung trong trận thử lửa đầu tiên với đế quốc Mỹ.

Lực lượng thanh niên đã dấy lên phong trào "Ba sẵn sàng" sôi nổi trong chiến đấu, là lực lượng xung kích, dũng cảm góp phần làm nên chiến thắng. Bên cạnh đó Hội Phụ nữ với phong trào "Ba đảm đang" rất sôi động tham gia phục vụ chiến đấu và sản xuất tốt.

Cuộc chiến đấu bền bỉ, gian khổ, rất oanh liệt và thắng lợi vẻ vang chống lại "Không lực Hoa Kỳ" dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thị ủy kéo dài đến ngày 1 - 11 - 1968, khi đế quốc Mỹ thất bại thảm hại buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc và phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari (thủ đô nước Pháp).

Trong thời gian 4 năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ (1965 - 1968), đế quốc Mỹ đã đánh phá Thị xã và khu vực Hàm Rồng 410 trận, trong đó có 118 trận ban đêm, sử dụng 1.857 lần chiếc máy bay đánh phá vào 659 điểm, trong đó 371 điểm là nhà ga, cầu, đường sắt, đường bộ, đường sông, kho tàng, bến bãi; 90 lần đánh vào khu dân cư (trong đó có 13 lần vào  khu dân cư sơ tán) với một khối lượng 11.842 bom phá, 37 bom bi mẹ, 6 quả thủy lôi (mỗi quả nặng 2,4 tấn), bắn 280 tên lửa, 3.883 rốc két và 206 quả đại bác từ biển lên Thị xã và Hàm Rồng.

Khối lượng bom đạn của địch đã tàn phá 3/4 Thị xã, phá hoại 1.791 ngôi nhà ngói, 6.357 nhà lá, 973 nhà xây mái bằng và nhà tầng các loại, 18 bệnh viện, trường học, 16 đền chùa và nhà thờ, 62 xí nghiệp và hợp tác xã, 7.582m đường bộ, 8.337m đường sắt, giết hại 115 con trâu, bò.

Trong 4 năm (1965- 1968), lực lượng dân quân tự vệ đã chiến đấu 144 trận đánh máy bay địch, bảo vệ vùng trời tầm thấp, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ Bến Cốc và tự vệ Xí nghiệp Cưa Mật Sơn độc lập bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Nhân dân Thị xã đóng góp 326.253 ngày công phục vụ trực tiếp chiến đấu, đào đắp công sự, trận địa và các công trình quốc phòng, tiếp tế, vận chuyển đạn dược, thay thế pháo thủ, chăm sóc cứu chữa thương binh và giải quyết mọi hậu quả trong và sau chiến đấu.

Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu và dũng cảm làm nên những chiến công lừng lẫy, Đảng bộ Thị xã đã phát động thi đua giữ vững mạch máu giao thông và vận chuyển hàng hóa ra tiền tuyến.

Thị xã Thanh Hóa là nơi tiếp nhận hàng của các tỉnh phía Bắc và hàng viện trợ của nước ngoài chuyển đến, đồng thời là nơi chuyển giao nhanh chóng hàng hóa vào tỉnh Nghệ An, để từ đó chuyển vào tiền tuyến lớn miền Nam. Với các khẩu  hiệu "Tim có thể ngừng đập, nhưng mạch máu giao thông không tắc", "Sống anh dũng bám đường, chết kiên cường dũng cảm", người trước ngã, người sau xốc tới, dưới mưa bom, bão đạn vẫn chuyển hàng ra phía trước, mạch máu giao thông thường xuyên được bảo đảm. Cuộc chiến đấu của Đảng bộ và quân dân Thị xã Thanh Hóa trên mặt trận giao thông vận tải diễn ra rất quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nhân dân Thị xã, nhất là trong khu vực vận tải thô sơ và thanh niên, đã dũng cảm chiến đấu, cùng với lực lượng chuyên môn đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống (kể cả ba tuyến: Đường sắt, đường bộ và đường thủy).

Cuối tháng 6 - 1965, bom đạn Mỹ đã san bằng khu ga Thanh Hóa, đường vận chuyển hàng hóa bằng tàu hỏa bị gián đoạn. Tỉnh ủy huy động lực lượng xe thồ của cả tỉnh mở tuyến vận chuyển gạo, vũ khí từ Thị xã Thanh Hóa đi Hoàng Mai (Nghệ An), đoàn vận chuyển lấy tên là VC1. 68 chiến sĩ xe thồ của Thị xã Thanh Hóa cùng với phương tiện vận chuyển hàng hóa, là đơn vị tập trung trên chặng đường dài 67km qua các trọng điểm giặc Mỹ đánh phá ác liệt: Bến phà Ghép, cầu Hang, cầu Hổ, cầu Lau, cầu Đồi (Tĩnh Gia). Ngay từ chuyến đầu tiên, Đại đội Thị xã Thanh Hóa đã đạt năng suất cao nhất, bình quân 200 - 250 kg/xe, có xe chở 404 kg và cao nhất đạt 472kg. Các chiến sĩ vận tải không kể gian nguy, đạn bom đánh phá, chỉ trong 10 ngày đầu đã cùng với toàn Đoàn (cả Đoàn lúc này có 200 xe) vận chuyển được 297 tấn gạo, vũ khí.

Sau đợt bị máy bay địch bắn phá, một số chiến sĩ xe thồ bị hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, việc vận chuyển hàng hóa tạm thời phải ngưng lại. Nhưng do yêu cầu cấp bách của tiền tuyến, Thị ủy và Ủy ban Hành chính Thị xã động viên tư tưởng cho các chiến sĩ và tăng cường thêm cán bộ, tổ chức lại đầu mối vận chuyển xe ngựa chuyển hàng từ Thị xã đến Quán Chẹt (Quảng Xương), anh em xe thồ được bố trí nghỉ ngơi ở các làng ven đường, nhận gạo đi tiếp vào Hoàng Mai. Nhờ cách tổ chức tốt mà đoàn Thị xã đã vận chuyển được 404 tấn hàng hóa, chiếm 22% khối lượng hàng hóa được vận chuyển, trong khi lực lượng chỉ bằng 10% của toàn Đoàn trong Tỉnh.

Tuyến đường sắt qua Hàm Rồng và địa phận Thị xã bị bom đạn Mỹ đánh thường xuyên, vì vậy phải chuyển hướng từ cầu Đen qua xóm Nam, ngõ Sẻ của làng Thọ Hạc vòng vào giữa đường Bắc - Nam thành, qua cửa Hữu, nối vào đoạn đường 47 mới đắp để qua xi phông nông giang vào phía Nam. Đường được ngụy trang che chắn khá chu đáo, có nhiều điểm tập kết hàng hóa. Công việc bốc dỡ và vận chuyển được tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành ngay trong  từng đêm.

Ngày 3 - 7 - 1965, Thị xã thành lập Đại đội Thanh niên xung phong 792 gồm 160 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Thuấn làm Đại đội trưởng tăng cường cho ngành Đường sắt để đảm bảo giao thông trên tuyến từ ga Minh Khôi đến ga Khoa Trường. Bờ sông Bến Ngự và khu Lò Chum là nơi tập kết hàng, do các tàu thuyền vận chuyển đến cũng được bảo vệ và bốc xếp vận chuyển an toàn ngay trong từng đêm cho mỗi chuyến hàng.

Lực lượng bốc xếp hàng hóa của Đoàn bốc dỡ I và Đoàn Đông Xuân đã có mặt ở bất cứ địa điểm nào, vào bất cứ thời gian nào để xếp dỡ. Các hợp tác xã xe thồ, xe bò, tiêu biểu là hợp tác xã Quang Vinh nhiều năm liền là lá cờ đầu của ngành Vận tải thô sơ đường bộ của toàn miền Bắc, đã bảo đảm vận chuyển đến một hệ thống kho tàng gần 11 điểm, nằm rải rác khắp Thị xã với sức chứa gần 5.000 tấn hàng.

Về vận tải đường thủy, lực lượng chủ yếu là thuyền gỗ của các hợp tác xã Quyết Tiến, Tiền Phong, Quyết Tâm, Thành Công ... đảm nhận việc chuyển tiếp hàng từ Nam Định, Ninh Bình vào Vinh, hoặc qua nhiều trọng điểm: Hàm Rồng, Cầu Bố, Nấp, Cầu Vạy, cầu Hang, Kênh Than. Hợp tác xã Quyết Tiến nhiều năm liền là đơn vị lá cờ đầu vận tải đường thủy của toàn miền Bắc.

Trong 4 tháng, Phòng Thị chính Thị xã được giao nhiệm vụ duy tu bảo dưỡng đường nội thị. Từ tháng 7 đến 10 - 1967 đã tu bổ được 23km đường với khối lượng đào đắp 39.000m3 đất đá, và san lấp 1.700m3 hố bom.

Trong thời gian giặc Mỹ đánh phá, lực lượng giao thông vận tải của Tỉnh đã phối hợp với nhân dân Thị xã mở thông nhiều tuyến đường quan trọng mới, san đồi bạt núi làm thêm đoạn đường mới từ làng Đông Sơn ra Quốc lộ 1A; mở đoạn đường từ bến phà Đức Giáo ngược lên Cầu Tào; mở thêm tuyến đường mới từ phía Nam cầu Hàm Rồng vòng qua chân các ngọn núi chạy thẳng vào Thị xã, mở tuyến cầu phao Đức Giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu xe và người qua lại được đảm bảo an toàn và thông suốt, không gây ách tắc.

Trong phong trào thi đua trên mặt trận giao thông vận tải của Thị xã trong 4 năm chiến tranh ác liệt đã nổi lên những đơn vị tiêu biểu như: Đội cầu phao Hàm Rồng, hợp tác xã Văn Minh, Đại đội xe thồ 103 Trung đoàn xe thồ Điện Biên Phủ của Tỉnh chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), mà lực lượng chủ yếu là hợp tác xã Tiền Phương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được cấp trên tặng danh hiệu 4 nhất, có 2 chiến sĩ Nguyễn Đức Thọ và Nguyễn Đức Tứ thồ từ 600kg đến 750kg, có 30 người khác thồ từ 400 đến 550kg/chuyến.

Riêng năm 1968, lực lượng vận tải thô sơ Thị xã đã vận chuyển được 170.025 tấn hàng, đảm bảo giao trả khỏi khu vực giặc đánh phá, khối lượng vận chuyển gấp 2 lần năm 1967.

Cùng với việc chiến đấu, bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt ra tiền tuyền, Đảng bộ đã tích cực lãnh đạo nhân dân tiến hành các phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

Sử dụng lực lượng lớn máy bay đánh tập trung ồ ạt bị thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải đánh lẻ, đánh lén vào các mục tiêu giao thông, nhà ga, cầu cống, các công trình thủy lợi, các khu vực tập trung dân cư, kinh tế - quân sự. Trong bối cảnh đó, sản xuất công nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp ở Thị xã về cơ bản vẫn được giữ vững. Các xí nghiệp của Trung ương và của Tỉnh đã được lệnh sơ tán một bộ phận, hoặc toàn bộ xí nghiệp ra khỏi địa bàn Thị xã, về nơi an toàn ở các huyện như: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Yên Định...

Trong các hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp trực thuộc Thị xã quản lý, phần lớn lao động là nam giới trực tiếp sản xuất đã chia nhỏ ra các bộ phận phân tán khắp Thị xã, để nếu bị địch đánh phá thì thiệt hại không đáng kể và có lực lượng tại chỗ phục vụ bộ đội chiến đấu khi cần phải huy động. Còn lao động là phụ nữ và thiếu niên trong các hợp tác xã như may mặc, dệt vải, dệt chiếu .... đều sơ tán ra các xã thuộc huyện Đông Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa ven Thị xã để tiếp tục sản xuất và tiện cho việc tiếp tế, liên lạc, chỉ huy.

Với tinh thần tự lực cánh sinh, vượt lên hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh gây ra, lại được sự lãnh đạo động viên kịp thời của các cấp ủy Đảng, sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể Thị xã, nên các ngành, các cấp, hợp tác xã thường xuyên quan tâm phát động phong trào thi đua yêu nước mà đỉnh cao là phấn đấu giành danh hiệu lá cờ đầu.

Trên các mặt trận kinh tế, quốc phòng-an ninh, giao thông vận tải,… đã tạo được bầu không khí thi đua sôi nổi, rầm rộ, rộng khắp, cuốn hút ngành ngành thi đua, người người thi đua, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo để vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ ác liệt hy sinh, quyết tâm phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước, góp phần bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện đầy đủ sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Phong trào thi đua yêu nước với nội dung "Ba điểm cao" (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều) liên tục được các xí nghiệp, hợp tác xã phát động từng tháng; từng quý, từng năm, tạo được khí thế sôi nổi, bám xưởng, bám máy sản xuất không kể ngày đêm.

Trong phong trào thi đua ấy, đã xuất hiện những đơn vị tiêu biểu về sản xuất giỏi và phục vụ chiến đấu tốt.

Tập đoàn Nam Kỳ 40 đã không kể ngày đêm, vẫn khẩn trương lên đường có lúc xa cách hàng 2 - 3 chục km để sửa chữa vũ khí, khí tài góp phần cho các đơn vị bộ đội tiếp tục chiến đấu.

Hợp tác xã cơ khí Thành Công, trong điều kiện phân tán thành nhiều bộ phận nhỏ, lực lượng giảm 27%, nhưng vẫn ổn định tổ chức, phát huy nhiều sáng kiến, sản xuất ra nhiều nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, như: cào cỏ, bừa cải tiến, cuốc xẻng v.v... Nhiều lần bị địch đánh phá vào cơ sở sản xuất, xã viên hợp tác xã đã xông vào cứu chữa dập tắt cháy và nhanh chóng ổn định tình hình để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, giữ vững danh hiệu Lá cờ đầu ngành sản xuất thủ công nghiệp toàn miền Bắc. Năm 1961, Hợp tác xã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và khen ngợi.

Thi đua với Thành Công, Hợp tác xã thủy tinh Thống Nhất sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng của nhân dân. Năm 1967, Hợp tác xã đã trở thành đơn vị tiêu biểu xuất sắc nhất và được công nhận là đơn vị lá cờ đầu toàn ngành thủ công nghiệp miền Bắc. Tại lễ đón nhận danh hiệu lá cờ đầu, Hợp tác xã vinh dự được Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi lẵng hoa và thư khen.

Đó là hợp tác xã thuyền vận tải đường sông Quyết Tiến; hợp tác xã xe bò vận tải Quang Vinh, nhờ có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý, khắc phục khó khăn, đã vươn lên đạt danh hiệu lá cờ đầu toàn ngành vận tải thô sơ miền Bắc, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là những hợp tác xã điển hình, tiêu biểu nhất, là những con chim đầu đàn của ngành thủ công nghiệp Thị xã, có sức lan tỏa, cuốn hút mạnh mẽ trong toàn ngành trên mặt trận sản xuất, làm kinh tế và trên mặt trận giao thông vận tải vô cùng ác liệt, hiểm nguy thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Bên cạnh đó, nhiều sáng kiến khắc phục khó khăn, nâng cao năng suất lao động đã nảy sinh trong thời chiến như hợp tác xã Hợp Tiến, đã dùng bàn ta rô để tạo răng ê cu đầu trục, đưa năng suất từ 30 lên 120 cái/công; hợp tác xã Hồng Hải dùng ngô làm men mốc thay gạo; hợp tác xã Dệt chiếu Minh Khai mới thành lập, gồm những chị em tiểu thương chuyển sang sản xuất đã khắc phục khó khăn, tổ chức việc học nghề để sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao, năng suất bình quân tăng từ 30 đến 50%, kịp thời giao hàng phục vụ xuất khẩu.

Năm 1965, ngành thủ công nghiệp Thị xã đạt tổng giá trị sản lượng 11 triệu đồng, bằng 106,9% kế hoạch Nhà nước giao và bằng 131,6% so với năm 1964, năm 1966 đạt 13,2 triệu đồng, giá trị tổng sản lượng bằng 101,4% kế hoạch Nhà nước giao; năm 1967 chỉ đạt 12,8 triệu đồng, năm 1968 đạt 12,2 triệu đồng [5].

Hằng năm, có trên 30 cơ sở sản xuất trong tổng số 38 đơn vị đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Đời sống xã viên được đảm bảo, các gia đình xã viên đều gắn bó với hợp tác xã.

Các xí nghiệp quốc doanh trực thuộc Thị xã giảm dần từ 15 đơn vị năm 1965 xuống 10 đơn vị năm 1968. Hàng năm có từ 8 đến 10 đơn vị hoàn thành kế hoạch, song chỉ có 5 đơn vị hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước và cả bốn năm liền trong chiến tranh là Xí nghiệp in Ba Đình, Nước mắm Hương Hải, Nhiếp ảnh Ánh Sáng và Nhà máy nước.

Về sản xuất nông nghiệp, xã viên các hợp tác xã nông nghiệp bám chắc đồng ruộng vừa sản xuất, vừa đánh giặc. Với diện tích canh tác của Thị xã lên trên 400ha, đồng ruộng các hợp tác xã Đông Sơn, Đông Quang, Phú Thọ, Nam Ngạn lại nằm vào vùng trọng điểm đánh phá của địch. Năm 1965, giặc Mỹ bắt đầu đánh phá ác liệt, nhưng bà con xã viên đã tranh thủ mọi điều kiện để gặt chiêm nhanh gọn, tranh thủ làm mùa kịp thời vụ. Về diện tích gieo cấy, năm 1965 gieo cấy được 1.224 mẫu 7 sào, năm 1966 nâng lên 1.314 mẫu 6 sào, kể cả lúa và hoa màu; trâu bò năm 1965 mới có 363 con, năm 1966 tăng lên 441 con; đàn lợn gia đình và tập thể đều tăng hơn trước.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng và Ban Chủ nhiệm các hợp tác xã, bà con xã viên đã hưởng ứng phong trào thi đua "3 mục tiêu" "5 tấn thóc/1ha canh tác, 2 đầu lợn/1ha gieo trồng, 1 lao động/1ha". Điểm nổi bật nhất là phong trào làm thủy lợi. Vì đây là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp. Hàng năm 8 hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đào đắp trên 20 ngàn m3 đất thủy lợi, bình quân mỗi lao động đào đắp từ 15 đến 17m3 trong năm. Lực lượng thanh niên "ba sẵn sàng" trong các hợp tác xã nông nghiệp cũng là lực lượng xung kích trên những cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ. Các hợp tác xã đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh, như đưa giống mới, cấy dăng dây thẳng hàng, dùng phân bón hóa học, làm bèo hoa dâu, cào cỏ cải tiến để làm cỏ và cải tạo đồng ruộng... Đối chiếu với 3 mục tiêu, trong quá trình phấn đấu thực hiện, các hợp tác xã nông nghiệp Thị xã mới chỉ đạt mục tiêu thứ 2, mục tiêu thứ nhất chỉ có hợp tác xã Phú Thọ đạt 5 tấn thóc/1ha, còn mục tiêu thứ 3 (1 lao động/1ha) hầu hết chưa đạt.

Các hợp tác xã mới đảm bảo được lương thực theo mức tự cung, tự cấp. Mức ăn bình quân năm 1965 của xã viên là 16,8kg/tháng, đến năm 1968 chỉ còn 15 kg, mức đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước năm 1965 là 203 tấn, năm 1966 xuống còn 174 tấn, năm 1967 chỉ còn 107 tấn, hợp tác xã Đông Sơn có mức bình quân lương thực thấp nhất là 11kg/người/tháng, nhưng lại là nơi chăm lo tốt nhất các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có con em đi chiến đấu ở chiến trường B, C và đều phục vụ tốt bộ đội pháo cao xạ Hàm Rồng tạo điều kiện để bộ đội chiến đấu giành nhiều thắng lợi. Năm 1965 Đảng bộ đã vận động tổ chức cho 38 hộ, gần 145 khẩu đi xây dựng phát triển kinh tế - văn hóa ở huyện Như Xuân.

Sự nghiệp văn hóa giáo dục được quan tâm. Năm 1965, mặc dù địch đánh phá ác liệt, Tỉnh ủy Thanh Hóa đồng ý cho Trường cấp 3 Lam Sơn vẫn duy trì việc dạy và học. Nhà trường đã khẩn trương sơ tán về xã Đông Văn, huyện Đông Sơn; đào đắp, bố trí đủ hầm hào phòng tránh, trú ẩn cho thầy và trò, tổ chức lại các lớp học cho phù hợp, nên việc dạy và học đạt kết quả tốt.

Trong hoàn cảnh có chiến tranh, hệ thống giáo dục, số lớp, số học sinh các cấp đều tăng. Năm học 1964- 1965 cấp I có 98 lớp, với 5,133 học sinh; cấp II có 43 lớp, với 2.212 học sinh, mẫu giáo có 15 lớp, với 502 học sinh vã vỡ lòng có 45 lớp, với 1.5121 học sinh. Cộng cả 3 khối phổ thông, vỡ lòng và mẫu giáo, tổng số học sinh trong niên học 1964 - 1965 và 9.102 em. Chất lượng dạy và học có tiến bộ. Năm 1965, em Nguyễn Anh Dũng, học sinh lớp 10 Trường cấp 3 Lam Sơn đạt giải học sinh giỏi toán toàn miền Bắc. Năm 1968, học sinh lớp 10 Lê Phước Dũng đạt giải học sinh giỏi môn Văn của Tỉnh.

Trong lúc Đảng bộ và quân dân Thị xã đang sôi nổi thi đua đẩy mạnh các phong trào chiến đấu, sản xuất, giao thông vận tải, với ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ VI được tiến hành từ ngày 5 đến ngày 8-9-1967 tại xã Đông Tiến (Đông Sơn)[6]. Về dự Đại hội có 117 đại biểu thay mặt cho 914 đảng viên của 61 Đảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc.

Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ V, Đại hội khẳng định: Trong 2 năm trực tiếp chống Mỹ, cứu nước, nhận thức rõ vị trí trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, đầu mối của trục giao thông thủy bộ và vị trí quân sự trọng yếu, Thị xã đã có những bước chuyển biến lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.

Về sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, đã có 72,5% xí nghiệp quốc doanh địa phương của Thị xã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Các xí nghiệp Mộc Thanh Hóa, Hương Hải, in Ba Đình là những đơn vị khá nhất của các ngành kiến trúc, thủy sản, văn hóa. Với 3.000 xã viên của 38 hợp tác xã thủ công nghiệp, sản xuất một khối lượng lớn sản phẩm thủ công nghiệp, cung cấp một phần tư liệu sản xuất nông nghiệp, đáp ứng một phần yêu cầu hàng tiêu dùng cho nhân dân trong tỉnh và góp một phần cho hàng hóa xuất khẩu.

Trong chiến đấu, Đảng bộ và quân dân Thị xã đã nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Huy động được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở địa phương, hiệp đồng chiến đấu và phục vụ chiến đấu chặt chẽ với các quân binh chủng có mặt trên địa bàn, sẵn sàng chủ động đánh thắng địch giòn giã ngay từ những trận đầu, tiêu biểu là trận ngày đầu mùng 3 và 4-4-1965, bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000 trên miền Bắc, bắt sống những tên giặc lái sừng sỏ, như trung tá Đen Tơn... Tiêu biểu là Tiểu khu Nam Ngạn, Đông Sơn, Nhà máy điện Thanh Hóa... đã lập những chiến công oanh liệt. Đại đội dân quân Nam Ngạn được Quốc hội tuyên dương đơn vị Anh hùng. Ngô Thị Tuyển, người con gái Nam Ngạn được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đi đôi với chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Đảng bộ kiên quyết tập trung lực lượng tổ chức tốt việc sơ tán, phòng tránh, trong chiến tranh trật tự, trị an vẫn được đảm bảo tốt. Thấm nhuần tinh thần bảo đảm giao thông vận tải trong thời chiến và hiểu rõ vị trí đầu mối của trục giao thông thủy bộ, lực lượng bốc xếp đã vượt qua bom đạn địch hoàn thành vượt mức kế hoạch xếp dỡ hàng hóa; sửa chữa cầu đường, đã lấp hàng trăm hố bom địch để lại thông đường xe đi, lực lượng vận tải vượt qua thiên tai địch họa.

Đảng bộ đã tiến hành giáo dục, tổ chức hướng dẫn quần chúng đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng và tăng cường chỉ đạo phát triển ngành nghề, việc ăn ở, học hành cho những đối tượng phải di chuyển, sơ tán ở vùng nông thôn các huyện trong tỉnh và lực lượng ở lại Thị xã vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Động viên thi đua yêu nước, khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong cán bộ và nhân dân. Nhờ vậy, mặc dù chiến tranh ác liệt, địch đánh phá ngày đêm, tàn phá Thị xã, đánh phá dữ dội các vùng lân cận, nơi đồng bào sơ tán, nhưng nhìn chung đời sống nhân dân vẫn được duy trì, không có gì xáo trộn lớn.

Thị ủy, các cấp ủy cơ sở trực tiếp làm tốt công tác tư tưởng, giáo dục đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tuyệt đại bộ phận đảng viên nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu, phát huy được vai trò lãnh đạo. Chất lượng lãnh đạo toàn diện của các Đảng bộ cơ sở được nâng cao hơn trước. Nếu như đầu năm 1965 chỉ mới có 26,75% chi bộ, 51,42% đảng viên đạt yêu cầu "4 tốt" thì đầu năm 1967 tỷ lệ ấy đã tăng lên 55,22% và 79,82%. Trong hơn 2 năm, Đảng bộ đã kết nạp 439 đảng viên mới, nâng tỷ lệ đảng viên nữ từ 8,8% lên 19%, tỷ lệ đảng viên trẻ từ 14% lên 29% so với năm 1964.

Toàn Đảng bộ đã quan tâm chăm lo tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng lực lượng Đoàn Thanh niên, bồi dưỡng được nhiều thanh niên ưu tú trở thành đảng viên. Đảng bộ cũng đã chú trọng giáo dục, bồi dưỡng lực lượng phụ nữ qua phong trào "ba đảm đang"; lực lượng công nhân, thợ thủ công qua phong trào "ba điểm cao" kết hợp với việc xây dựng Chi bộ Hội Phụ nữ tiên tiến, Công đoàn "4 tốt".

Các tổ chức phụ lão, Hội mẹ chiến sĩ, trong Mặt trận cũng được xây dựng, củng cố và động viên thực hiện tốt phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước và thực hiện tốt các chính sách mặt trận.

Từ những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, Đại hội rút ra 3 bài học kinh nghiệm:

Một là, phát huy cao độ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tăng cường giáo dục, cổ vũ và tổ chức lực lượng trên mọi mặt trận, tinh thần sẵn sàng hy sinh tính mạng, tài sản để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai là, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào, Đảng bộ phải chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cấp trên với tinh thần chủ động, sáng tạo, dựa vào sức mình là chính. Đảng bộ phải đặt đúng vị trí hàng đầu của công tác tư tưởng, kiên quyết giáo dục đảng viên, quần chúng tăng cường sinh hoạt dân chủ, đồng thời biết tập trung lực lượng thực hiện dứt điểm một số việc nhất định trong từng thời gian nhất định.

Ba là, các ngành, các cấp phát huy được vai trò, vị trí, nhiệm vụ, chức năng của mình, hướng vào công tác trọng tâm, thông qua đó mà hoàn thành nhiệm vụ với năng suất, chất lượng ngày càng cao.

Căn cứ tình hình, đặc điểm của Thị xã và quán triệt các nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh ủy, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới là: "Phát huy kinh nghiệm tốt qua 3 năm chống Mỹ, cứu nước, trong gian khổ khói lửa, đặt cao hơn nữa công tác chính trị tư tưởng và tổ chức. Đặc biệt là tập trung xây dựng cơ sở Đảng vững mạnh, tích cực hơn nữa việc cải tiến tác phong lãnh đạo và chỉ đạo, công tác, thực sự mở rộng dân chủ, đi sâu phát động quần chúng, giáo dục cán bộ, quần chúng tinh thần quyết tâm cao, tinh thần tiến công cách mạng, không ngừng ra sức vượt mọi khó khăn hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác khác. Đặc biệt kiên quyết tập trung toàn lực đẩy mạnh sản xuất phát triển đưa phong trào tiến lên".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa VI gồm 19 đồng chí, đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư; đồng chí Trần Trọng Tài làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã).

Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ VI  đã gửi Thư tới Ủy ban Dân tộc giải phóng và toàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Thị xã Hội An, thể hiện tình cảm Bắc-Nam ruột thịt, thể hiện quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa “quyết đem hết trí tuệ, sức lực hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc giao”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ VI, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thi đua lao động sản xuất, học tập và công tác, quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước.

II. KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN THỊ XÃ SAU CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI  CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969 - 1971)

Năm 1968, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ hoàn toàn sụp đổ. Nhưng với bản chất phản động, hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến tranh ở miền Nam bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đứng trước sự thay đổi về chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 1-1-1969, Bộ Chính trị (khóa III) ra nghị quyết "về tình hình nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân". Nội dung nghị quyết đã vạch trần âm mưu của địch và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho quân và dân cả nước đánh thắng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của giặc Mỹ.

Sau khi địch tạm ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể của Thị xã chuyển về Thị xã. Đảng bộ và nhân dân Thị xã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ VII diễn ra từ ngày 17 đến 23-4-1969, tại Hội trường Thị  ủy Thanh Hóa. Dự Đại hội có 116 đại biểu chính thức và 11 đại biểu dự khuyết. Đánh giá những thành tựu đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI, Đại hội khẳng định: "Quá trình thực hiện nhiệm vụ của Đảng cấp trên giao cho và với tinh thần trách nhiệm trước nhân dân Thị xã, Đảng bộ đã phát huy năng lực chủ quan của mình, chủ động kết hợp chặt chẽ với các ngành liên quan, ra sức động viên cán bộ đảng viên và nhân dân Thị xã, nêu cao tinh thần phấn đấu cách mạng, tự lực cánh sinh, khắc phục mọi khó khăn, vì vậy trong những năm qua đã hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Bên cạnh thành tích đạt được, Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm rút ra những mặt còn tồn tại của quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng. Đó là trình độ lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ và các ngành còn nhiều mặt yếu kém so với yêu cầu cách mạng, nhất là về quản lý kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật, biểu hiện tập trung ở khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn yếu, quản lý sử dụng cán bộ chưa tốt.

Trên cơ sở mặt mạnh, mặt yếu và căn cứ vào nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn trước mắt, Đại hội đã ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ chung cho nhiệm kỳ tới là: "Lấy xây dựng Đảng làm gốc, lấy tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và thi đua yêu nước làm động lực, thúc đẩy toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hướng về miền Nam ruột thịt, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn, giữ vững nếp sống quân sự hóa, bảo vệ Thị xã an toàn trong mọi tình huống, phát huy cao độ ý thức tự lực cánh sinh và tinh thần công tác tương trợ, nỗ lực phấn đấu hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước; tăng thêm vốn tích lũy đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật, ưu tiên số 1 là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, góp phần cao nhất vào sự nghiệp đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao một bước đời sống nhân dân".

Đại hội ra Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, coi trọng "củng cố và nâng cao chất lượng cơ sở Đảng. Ba mặt công tác: Tư tưởng, tổ chức và kiểm tra phải được tiến hành đồng đều, cân đối, công tác tư tưởng phải đi trước một bước nhưng phải lấy công tác tổ chức làm gốc. Công tác kiểm tra phải kịp thời nghiêm chỉnh".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VII gồm 21 ủy viên chính thức và 2 Ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu lại làm Bí thư; đồng chí Hoàng Tửu làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thị xã).

Bị thất bại nặng nề ở hai miền Nam – Bắc, ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cuộc chiến tranh nhân dân của quân và dân miền Bắcchống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ kết thúc thắng lợi. Trước tình hình đó, ngày 3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Chúng ta đã đánh thắng… Song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu… hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Ngày 15-2-1969, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết về thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết nêu rõ: "Tích cực bảo đảm đáp ứng tốt mọi nhu cầu nhân lực cho sản xuất và chiến đấu trong giai đoạn quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành thắng lợi quyết định, chú trọng đảm bảo dành một phần lực lượng thích đáng cho giao thông vận tải, kiến thiết cơ bản để tranh thủ mọi thời cơ sửa chữa và xây dựng nhanh chóng cầu đường trong tỉnh, sửa chữa và sản xuất kịp thời các phương tiện vận tải phục vụ đắc lực nhiệm vụ chi viện tiền tuyến".

Quán triệt và vận dụng tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng và của Tỉnh ủy vào điều kiện cụ thể ở Thị xã Thanh Hóa, ngày 21-1-1969, Thị ủy đã phát động đợt thi đua "làm theo lời Bác" (từ ngày 3-2 đến ngày 19-5-1969). Phong trào thi đua này đã tạo nên một không khí sôi nổi trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Thị xã. Đã tập trung sức làm vệ sinh dọn dẹp làm sạch đường phố, thu dọn sân, vườn, tạo nên phong cảnh quang đãng sau chiến thắng chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nhằm bảo vệ sức khỏe của nhân dân và đẩy mạnh sản xuất.

Trên đà thắng lợi của đợt thi đua đó, Thị ủy tiếp tục phát động đợt thi đua "100 ngày cùng Hội An tiến công thắng Mỹ", bắt đầu từ ngày 19-5 đến  ngày 2-9-1969, nhằm thúc đẩy khí thế hăng say lao động, khẩn trương trở lại nề nếp làm việc thời bình, đồng thời không ngừng đề cao cảnh giác, đề phòng địch dùng không quân đánh phá trở lại.

Giữa lúc Đảng bộ, quân dân Thị xã Thanh Hóa cùng cả nước đang đẩy mạnh thi đua thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược thì được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là tổn thất vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trước khi qua đời, Bác Hồ đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thị xã cùng nhân dân Tỉnh Thanh Hóa và cả nước để tang Người. Già trẻ, gái trai thầm lặng xếp thành từng đoàn đến trước bàn thờ Người dâng hương hoa kính viếng và vĩnh biệt Người.

Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 tại Thủ đô Hà Nội, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã biến đau thương thành hành động cách mạng, kiên trì đẩy mạnh kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng và khôi phục miền Bắc, nguyện ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Trước tình hình mới, Thị ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 1969, nêu rõ phải "Phát huy tinh thần cách mạng tiến công, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, quyết tâm giành thắng lợi toàn diện". Nghị quyết nhấn mạnh 3 việc phải tập trung giải quyết là: "Đẩy mạnh sản xuất, chi viện miền Nam, tổ chức đời sống". Nghị quyết cũng chỉ rõ khó khăn là thiếu nguyên liệu, nhất là than củi cho sản xuất thủ công nghiệp và trình độ khoa học kỹ thuật non yếu, chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sản xuất, cần phải có kế hoạch khắc phục kịp thời.

Ngày 1-1-1971, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã đã đánh giá: sau những năm Thị xã phấn đấu khôi phục và phát triển kinh tế, "Tính chất trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh đã hình thành trở lại", tạo ra những điều kiện, tiền đề để "công cuộc xây dựng kinh tế trong những năm tới sẽ được đẩy mạnh trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng cơ bản".

Trong không khí toàn Đảng, toàn quân ta đang sôi nổi thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 19, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã  thi đua lao động sản xuất trong phong trào “Mùa Xuân thắng Mỹ”, quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 14 - 2-1971, Đảng bộ Thị xã đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VIII.

Đại hội đã tổng kết tình hình hoạt động của Đảng bộ trong 2 năm 1969-1970; đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 1971 và những năm tiếp theo; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới gồm 18 đồng chí, Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí, đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư, đồng chí Hoàng Tu được bầu làm Phó Bí thư.

Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VII và các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, Đại hội nêu rõ: “Đảng bộ và nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên các mặt”. Đó là:

- Về chiến đấu: đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, chấp hành tốt chính sách hậu phương quân đội, trật tự trị an được giữ vững, Thị xã được bảo vệ an toàn.

- Về sản xuất kinh tế: Quán triệt tinh thần tranh thủ hòa bình đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế. Trong hai năm đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực đẩy mạnh sản xuất, nhờ vậy mà Thị xã đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước trong công nghiệp, thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác, nhất là trong thủ công nghiệp. Mặt hàng tiêu dùng, mặt hàng mới được phát triển phù hợp với chủ trương của Trung ương, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của địa phương. Sản xuất nông nghiệp có chuyển biến khá rõ nét, năng suất lúa, chăn nuôi lợn, trồng rau đều tăng. Việc thực hiện nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước hoàn thành vượt mức. Phong trào tiến quân vào khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp có tiến bộ.

Các ngành kinh tế và các mặt hoạt động khác đều phát triển và có tiến bộ rõ về quan điểm chính trị, ý thức phục vụ quần chúng.

Nhiều phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội được liên tục phát động và đạt kết quả thiết thực, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân hăng say lao động sản xuất…

- Về đời sống: đã có nhiều cố gắng trong chăm lo đời sống nhân dân, nhờ vậy khắc phục dần những khó khăn, ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân.

Đại hội đã dành nhiều thời gian kiểm điểm, đánh giá công tác xây dựng Đảng. Đại hội nhấn mạnh đây là công tác trọng tâm, then chốt và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với Thị xã - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nơi tập trung đầu mối giao thông quan trọng.

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế, khó khăn, quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, Đại hội đã tập trung bàn kỹ và ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ của Thị xã trong năm 1971 và những năm tiếp theo, với những nội dung chủ yếu:

- Tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất; giải quyết tốt các mối quan hệ giữa chiến đấu, phòng tránh, với sản xuất; giữa kinh tế với quốc phòng.

Tập trung các biện pháp phát triển sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp với tinh thần tập trung sản xuất hàng tiêu dùng một cách phong phú, phát triển sản xuất lương thực-thực phẩm, nhằm đạt hiệu quả cuối cùng là: năng suất lao động tăng; sản phẩm xã hội nhiều; chất lượng tốt, bền đẹp, giá thành hạ.

- Coi công tác xây dựng Đảng là then chốt, khâu quyết định thắng lợi của Đảng bộ[7].



[1] Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, 1994, tr.79.

[2] Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi: Thành phố Thanh Hóa, tập 2, NXB Thanh Hóa 1994.

[3] Thành phố Thanh Hóa (1947-1994), tập II, NXB Thanh Hóa 1994 - tr133.

[4]  Tháng 4-1964, toàn Đảng bộ Thị xã có 82 cơ sở Đảng trực thuộc gồm 1.600 đảng viên.

 

[5] Thành phố Thanh Hóa, tập II, sdd, trang 142.

[6] Đông Tiến, Đông Sơn là nơi sơ tán của cơ quan Thị ủy.

[7] Văn kiện Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa, ngày 14-2-1971.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/baitho_khan%20theu_NKTT.JPG

 Tấm khăn thêu bài thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ, do 6 nữ tù chính trị thêu trong nhà lao Hội An năm 1969, được bí mật chuyển ra ngoài, năm 1971 được mang ra tặng Đại hội Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ VIII

 

 

Tập trung sức đẩy mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đó là nhiệm vụ hàng đầu đặt ra. Trở về Thị xã trong cảnh nhà xưởng bị hư hỏng do chiến tranh, máy móc, vật tư, thiết bị năng lực thiếu, xã viên các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, tiết kiệm chi dùng, tập trung vốn đầu tư cho sản xuất với mức ngày càng tăng (năm 1970 giá trị đầu tư đạt 300.000 đ, năm 1971 lên 605.303 đ); phục hồi sản xuất nhiều mặt hàng cũ, năm 1969 - 1970 cung cấp cho thị trường 16 mặt hàng mới; phong trào thi đua luyện tay nghề, thi thợ giỏi, thao diễn kỹ thuật, đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho thợ trẻ... Tất cả sự cố gắng đó đã góp phần khắc phục một bước những khó khăn sau những năm chống chiến tranh phá hoại...

Tổng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp Thị xã năm 1971 bằng 2 lần năm 1964, chiếm 25% giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp của Tỉnh.

Nhằm quy hoạch, tổ chức lại quy mô Thị xã, đáp ứng yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế, ngày 28-8-1971 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 226/TTg sát nhập các xã Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải của huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng của huyện Quảng Xương vào Thị xã Thanh Hóa. Vành đai nông nghiệp bao quanh Thị xã được mở rộng, nâng số diện tích canh tác lên 1.200 ha, số hợp tác xã nông nghiệp lên 17 đơn vị, trong đó có nhiều hợp tác xã nông nghiệp trồng rau tốt như: Vệ Yên, Tạnh Xá; chăn nuôi lợn tốt như Quảng Xá, Kiều Đại; làm nghề phụ chế biến bánh và đã từng đạt danh hiệu 5 tấn thóc/1ha của huyện Đông Sơn như xã Đông Hương. Việc mở rộng địa giới đã tạo cho Thị xã có thêm tiềm lực mới giải quyết cung cấp thực phẩm tại chỗ, tăng thêm khả năng và thế mạnh mới về kinh tế nông nghiệp.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Thị xã đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động thi đua lao động sản xuất (1-1970), tăng cường chế độ làm chủ ở nông thôn (3-1970) đã tạo ra một động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Việc áp dụng kinh nghiệm thâm canh cây trồng, phong trào chị em phụ nữ đảm nhận xây dựng cánh đồng Bà Triệu, đã đẩy nhanh tiến độ phấn đấu đạt mục tiêu năng suất 5 tấn/ha (năm 1969: 4 tấn, năm 1970: 4,4 tấn, năm 1971: 5 tấn). Nông nghiệp Thị xã trở thành một trong 6 đơn vị của Tỉnh đạt năng suất lúa 5 tấn/ha. Năm 1971 các hợp tác xã Nam ngạn đạt 5,666 tấn/ha, Công Nông đạt 5,608 tấn/ha, Minh Khai đạt 5,326 tấn/ha dẫn đầu các hợp tác xã về mục tiêu thứ nhất. Đàn lợn của Thị xã trong năm này đạt 9,927 con bình quân 4,3 con/ha.

Về văn hóa - giáo dục, mặc dù chiến tranh phá hoại lần thứ nhất diễn ra ác liệt nhưng y tế, văn hóa, giáo dục vẫn phát triển. Bệnh viện Thị xã hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và phục vụ chiến đấu tốt; các trạm y tế cơ sở hoạt động đều, cán bộ y tế được đào tạo ngày càng nhiều. Phong trào sửa chữa nhà tiêu, giếng nước được củng cố. Trong chiến tranh, Thị xã không để xảy ra dịch bệnh.

Ngành chiếu bóng xây dựng một hầm chiếu, hoạt động thường xuyên. Phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" phát triển sôi nổi, khích lệ nhân dân hăng say sản xuất và chiến đấu.

Về giáo dục, đi sơ tán bất cứ ở đâu, nhân dân đều góp công, góp sức đắp lũy bọc các lớp học, đào giao thông hào cho các em đến lớp. Phong trào thi đua "hai tốt" được duy trì và phát triển. Sau khi kết thúc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, các cơ sở giáo dục trở về Thị xã, ngành Giáo dục phát triển khá nhanh ở cả 3 cấp. Năm học 1969-1970 có 78 lớp với 4.590 học sinh, năm học 1970-1971 số lớp tăng lên 191, với 8.834 học sinh. Kể từ khi 5 xã của huyện Đông Sơn và huyện Quảng Xương nhập về Thị xã, ngày 28-8-1971, số học sinh tăng lên 13.498 em với 327 lớp.

Về xây dựng hậu phương và chi viện cho tiền tuyến, với quyết tâm "thời kỳ tổng tiến công đã đến, Đảng bộ và nhân dân Thị xã quyết xây dựng hậu phương vững mạnh, chi viện cao nhất sức người và của cho tiền tuyến", Thị ủy đã mở đợt công tác giáo dục tư tưởng cho toàn Đảng bộ. Nhiều cơ sở đã mở hội tòng quân, đăng ký đi nghĩa vụ quân sự, giải quyết tốt chính sách hậu phương và phát động phong trào: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Năm 1968 đạt 97% chỉ tiêu giao quân, năm 1970 đạt 127% chỉ tiêu, năm 1971 qua 3 đợt tuyển quân vượt mức 9%. Ba đợt tuyển quân của năm 1972 đạt tổng số 465 người/450 người, bằng 103,3% chỉ tiêu giao.

Việc chấp hành chính sách nghĩa vụ giao nộp lương thực, thực phẩm, nộp thuế và thu mua hàng hóa có chuyển biến tốt: năm 1970 đạt 140,5 tấn; năm 1971 đạt 190 tấn; năm 1972 tăng lên 431 tấn[1].

Về tổ chức đời sống, từ thời chiến chuyển sang thời bình nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân tăng lên. Cấp ủy, chính quyền Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo các cửa hàng lưu thông phân phối lo cung cấp tranh, tre, nứa, luồng để nhân dân sửa chữa nhà cửa, bảo đảm nơi ăn ở.

Thực hiện chế độ cung cấp thông qua tem phiếu, các cửa hàng lương thực, thực phẩm, bách hóa, vải sợi của quốc doanh lúc nào cũng tấp nập người vào mua hàng, theo tiêu chuẩn định lượng. Thông cảm với khó khăn của Nhà nước, mọi người đều vui vẻ xếp hàng chờ đợi đến lượt mình mua. Do nhu cầu đời sống tăng lên, quốc doanh Nhà nước không đủ sức đáp ứng, một bộ phận người buôn bán nhỏ từ hợp tác xã trở ra buôn bán, đến đầu năm 1970 đã tăng lên 1.226 người (trong hoàn cảnh lúc bấy giờ thì số người này coi như là làm ăn bất chính, phá rối thị trường).

Trước những đòi hỏi bức thiết của công cuộc khôi phục kinh tế - văn hóa - xã hội và tổ chức đời sống nhân dân, các ngành xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng đã có nhiều đóng góp tích cực và thiết thực, song cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu xã hội. Bởi vậy, vai trò tham gia của các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực này là rất quan trọng. Cuối năm 1971, Ủy ban hành chính Thị xã kết hợp với Mặt trận Tổ quốc Thị xã và các đoàn thể tổ chức Đại hội liên hoan, biểu dương các đơn vị, gia đình và cá nhân tiên tiến có nhiều thành tích đóng góp trong việc khôi phục kinh tế - văn hóa, xã hội của Thị xã sau chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất.

Đại hội đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao cảnh giác đề phòng mọi âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tấn công trở lại miền Bắc.

III. LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1971 - 1972)

Tuy đã tuyên bố tạm ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam và tiến hành đàm phán ở Pa-ri (Thủ đô nước Pháp) nhưng đế quốc Mỹ vẫn lén lút tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc, cùng với đẩy mạnh "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ hai của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt trên toàn miền Bắc. Đối với tỉnh Thanh Hóa, chiến tranh phá hoại lần thứ hai được đánh dấu bằng sự kiện ngày 26-12-1971, khi đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom, bắn phá dữ dội vào khu vực Hàm Rồng.

9 giờ 30 phút sáng ngày chủ nhật 26-12-1971, một tốp máy bay 4 chiếc F4B lẻn vào đánh phá Hàm Rồng. Mặc dù đã 3 năm 9 tháng im tiếng súng tại khu vực này, đội pháo cao xạ 228 của ta vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhả đạn vào đầu thù. Trong trận này ta bắn cháy 2 máy bay Mỹ, những tên giặc lái phải đền tội. Đây là những chiếc máy bay thứ 100 và thứ 101 của Mỹ bị bắn rơi ở Hàm Rồng. Tháng 1-1972, Tỉnh ủy chỉ thị cho Đảng bộ, lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh phải "tăng cường mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi hoạt động chiến tranh bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ"[2].

Trước tình hình ấy, Thị ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo Ủy ban hành chính Thị xã và các đoàn thể quần chúng tiến hành đợt tập trung tuyên truyền, làm công tác tư tưởng, tổ chức và chuẩn bị về mọi mặt, để đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt lần thứ hai.

Khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, các cơ quan Dân Chính Đảng Thị xã lại di chuyển, sơ tán lên xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn.

Nhân lực đã được huy động để sửa hầm hào cũ, đào hầm hào mới; tất cả được 9.970 chiếc, trong đó có 5.165 hầm chữ A (hầm Quảng Bình). Song song với công tác đào hầm hào, Thị xã đã tổ chức thông suốt hệ thống báo động phòng không bằng truyền thanh, hoặc loa, kẻng để chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của địch. Song song với công việc trên đã tổ chức chu đáo cho 35.614 người trong tổng số 61.658 nhân khẩu nhân dân, 12.000 cán bộ công nhân viên chức các cơ quan xí nghiệp Nhà nước sơ tán khỏi Thị xã; 9.868 người dân đã tản ra các xã xung quanh khi có chiến sự ác liệt. Thầy trò các trường học sơ tán về các xã vùng ven Thị xã.

Tháng 1-1972, Thường vụ Thị ủy đã thông qua phương án kế hoạch phòng không nhân dân, do Ban Chỉ huy Thị đội trình bày, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, phòng chống gián điệp, biệt kích, tập kích của địch và ra nghị quyết phân công các Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ về chỉ đạo cơ sở chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.

Công tác sẵn sàng chiến đấu, sơ tán phòng tránh triệt để trở nên rất khẩn trương. 20 giờ 30 ngày 23-4-1972, nhận được lệnh của cấp trên báo sẽ có nhiều tốp máy bay B52 đánh vào Thị xã Thanh Hóa, Ban Chỉ huy Phòng không nhân dân kịp thời phân công cán bộ đi truyền đạt cho các cơ sở, nhất là khu vực Đông Sơn, Đông Tác, Nam Ngạn phải triệt để sơ tán, mỗi nơi chỉ để lại 1 tiểu đội dân quân được tăng cường trang bị và ẩn nấp ở các hầm quanh làng sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra. Cùng với tổ chức việc phòng tránh sơ tán, giải quyết hậu quả chiến tranh, cấp ủy, chính quyền địa phương đã chú ý công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng kiên định về tư tưởng, không hoang mang dao động. Đồng thời, tháng 5-1972, Thị xã lập Đại đội Thanh niên xung phong 2595 gồm 90 chiến sĩ do đồng chí Lê Văn Sướng làm Đại đội trưởng, tham gia Tổng đội Thanh niên xung phong 572 xây dựng tuyến đường Na Mèo  - Sầm Nưa giúp cách mạng Lào.

 Năm 1972, đế quốc Mỹ dùng máy bay ném bom và hạm tàu pháo kích với tính chất hủy diệt vào Thị xã Thanh Hóa. Quân dân Thanh Hóa đã kiên cường đánh trả, giữ vững trận địa, khiến địch phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề.

Đúng 2 giờ 25 phút ngày 24-4-1972, địch cho nhiều tốp máy bay ném bom xuống Hàm Rồng - Nam Ngạn. Đến 4 giờ 15 phút, sau trận ném bom thứ 8 thì địch tạm ngưng. Cầu Hàm Rồng vẫn còn nguyên vẹn, nhưng làng Nam Ngạn thì thiệt hại nặng nề, 9 cụ già ở lại làng hầu hết bị thiệt mạng và 1 nữ pháo thủ hy sinh, có những khẩu đội pháo hy sinh hầu hết.

18 giờ 30 phút ngày 7-5-1972, một máy bay A3J từ phía Bắc lao theo trục Quốc lộ 1A vào cầu Hàm Rồng, vừa tới mục tiêu thì bị lực lượng phòng không bắn rơi, 2 tên giặc lái nhảy dù bị dân quân Đông Hải bắt sống. Ngày 14-6-1972, đế quốc Mỹ đã điều động 24 lần chiếc máy bay đánh phá nhiều cơ sở sản xuất trong Thị xã. Máy bay Mỹ đã trút bom vào khu vực đê Nam Ngạn đúng lúc 2.000 giáo sinh trường Sư phạm 7+2, y sinh trường Y và giáo viên khu vực Thị xã đang đắp đê, làm 63 người chết và gần 200 người bị thương[3].

Ngày 14-8-1972, địch cho 18 lần chiếc máy bay ném 65 quả bom hủy diệt xã Đông Vệ và Xí nghiệp Dược phẩm, làm chết 26 người, bị thương 9 người. Buổi chiều cùng ngày, địch lại cho 18 lần chiếc máy bay đánh Hàm Rồng gây thêm nhiều tội ác. Ngày 15-8-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu vực Ga Thanh Hóa, xã Đông Thọ. Ngày 9-9-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu vực phường Ba Đình, xã Đông Vệ, hợp tác xã Toàn Thành, rạp Hội An, hợp tác xã Hợp Tiến..., nhiều nhà cửa kho tàng, trường học bị phá hủy, hàng chục người chết và bị thương. Ngày 6-10-1972, giặc Mỹ cho máy bay ném bom điều khiển bằng tia laze đánh sập cầu Hàm Rồng. Ngày 19-10-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu  vực Ga Thanh Hóa, Trường Thi, Công viên thiếu nhi. Nhiều nhà cửa, kho tàng, cơ quan bị san bằng, 5 người chết, 14 người bị thương,...

Thiệt hại do giặc Mỹ gây ra đối với nhân dân Thị xã Thanh Hóa trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 rất nặng nề. Đảng bộ Thị xã cũng chịu tổn thất lớn: đồng chí Hoàng Tửu, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã[4] hy sinh.

Tính cả năm 1972, trong địa bàn Thị xã, giặc Mỹ đã đánh phá 82 trận (có 9 trận ban đêm, 27 lần chiếc máy bay B52, 1.308 lần chiếc máy bay phản lực các loại), ném xuống Thị xã 10.395 tấn bom đạn các loại, với 6.599 bom phá, 53 quả tên lửa, 96 quả bom từ trường, nhiều bom bi và rốc két. Chúng tổ chức 7 lần pháo kích với hơn 7.000 quả pháo cỡ 122 đến 175 ly. Không có Tiểu khu, xã, hợp tác xã, cơ quan nào không bị tàn phá, kể cả nhà Chung Thanh Hóa, nhiều tiểu chủng viện cũng bị ném bom; trụ sở cơ quan Thị ủy và Ủy ban hành chính Thị xã bị bom đạn Mỹ phá hủy; gây ra 68 hố bom trên các tuyến đường đòi hỏi khối lượng san lấp gấp 2 lần thời 4 năm trước, Thị xã có 249 người chết, 436 người bị thương, 1.731 ngôi nhà (trong đó 351 nhà ngói) bị sập.



[1] Thành phố Thanh Hóa, Tập II, Sđd, trang 150.

[2] Chỉ thị số 01 CT/TU (lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa).

[3] Sự kiện này thể hiện sự dã man của giặc Mỹ, một phần do ta mất cảnh giác, khi huy động một lực lượng lớn vài ngàn người, tập trung đắp đê trên địa hình trống trải, không đủ hầm hào phòng tránh, lại làm việc vào ban ngày, cách trọng điểm địch đánh phá cầu Hàm Rồng chưa đầy 1 km. Sau khi xảy ra thiệt hại lớn, ta đã kịp thời chuyển phương án làm việc về ban đêm, chia nhỏ lực lượng làm việc theo ca kíp, vừa đào đắp, vừa chú ý chuẩn bị chỗ ẩn nấp, phòng tránh; xây dựng tổ chức báo động phòng không và chỉ huy hiệp đồng tác chiến chặt chẽ.

Năm 2011, Tỉnh và Thành phố Thanh Hóa đầu tư xây dựng công trình di tích tưởng nhớ 63 người đã hy sinh trong trận ném bom của đế quốc Mỹ ngày 14-6-1972, đồng thời cũng là dấu tích tố cáo tội ác dã man của đế quốc Mỹ.

[4] Ngày 9-10-1972, đồng chí Hoàng Tửu, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã  hy sinh. Tháng 11-1972, đồng chí Thiều Quang Mộc, Chính trị viên Thị đội, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã được cử làm Quyền Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/lang_namngan_bisap.JPG

 

 

Sự tàn bạo của kẻ thù chỉ càng làm tăng thêm chí căm thù giặc Mỹ. Trút căm thù lên đầu súng, các phân đội súng máy, pháo phòng không trên địa bàn đã hợp đồng tác chiến, kiên quyết đánh trả gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 18-5-1972, bộ đội Hàm Rồng bắn rơi 2 chiếc máy bay, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ bắn rơi 1 chiếc. Trong các trận đánh ngày 14-6-1972; ngày 16-6-1972; ngày 01-8-1972 và ngày 21-12-1972, tự vệ các đơn vị xí nghiệp Mộc xẻ Bến Cốc, tự vệ Xí nghiệp Cơ khí tỉnh, Cơ khí kiến trúc. Nhà máy Cưa Mật Sơn, Thủ công nghiệp, phân đội súng máy của dân quân Đông Hải đã độc lập bắn rơi 4 chiếc máy bay phản lực Mỹ. Nam nữ dân quân Nam Ngạn và Đông Sơn đã dũng cảm phục vụ chiến đấu tại các trận địa ác liệt nhất như Đồi C4 anh hùng, đồi Không tên, Nhà máy Xay, đê Nam Ngạn. Tổ công binh Thị xã đã dũng cảm phá nổ 1 quả bom từ trường ở Bắc cầu Hàm Rồng, 1 quả ở bến phà 2 và 18 quả khác ở trên đồi, trên cánh đồng ... Riêng tổ công binh làng Đông Sơn đã phá được 23 quả bom từ trường. Ngày 30 Tết Quý Sửu, tại làng Lễ Môn - Đông Hải đã phá hơn 20 quả bom từ trường[1].

Để đề phòng âm mưu tiến công của địch bằng bộ binh, Ban Chỉ huy Quân sự Thị xã tổ chức 1 đại đội cơ động, gồm bộ đội phục viên và thanh niên trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, tập trung huấn luyện trong 20 ngày, được biên chế, trang bị đầy đủ như một đại đội bộ đội chủ lực. Sau lớp học, anh em được đem theo vũ khí trở về cơ sở sản xuất và công tác, khi có lệnh tập trung, sẵn sàng trở lại đội ngũ chiến đấu.

Về công tác phục vụ chiến đấu, các làng Đông Sơn, Đông Tác, Đông Quang, Nam Ngạn đã liên hệ với các trận địa pháo và được sự giúp đỡ của bộ đội pháo cao xạ, huấn luyện được 48 pháo thủ dự bị, kết hợp với Phòng Y tế và Bệnh viện Thị xã huấn luyện được 72 chiến sĩ cứu thương.

Từ tháng 4 đến tháng 9-1972, Thị xã đã huy động 57.000 ngày công xây dựng trận địa tên lửa; 17.500 công sửa chữa trận địa pháo cao xạ Hàm Rồng. Tiêu biểu cho công tác phục vụ bảo đảm chiến đấu trong mọi tình huống là các đơn vị: Đông Tác, Điện Hàm Rồng, Nam Ngạn, Nam Kỳ 40, Điện Biên và phòng Thị chính ... Thị ủy đã đặt đúng mức việc chỉ đạo công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nên trong suốt thời gian chiến tranh phá hoại lần thứ hai và những năm khôi phục kinh tế - văn hóa, đã bảo vệ an toàn tài sản của nhân dân, của Nhà nước và hợp tác xã.

Về nhiệm vụ của hậu phương đối với tiền tuyến, mặc dù phải đảm bảo chiến tranh tại chỗ, nhân dân Thị xã vẫn tích cực làm nhiệm vụ hậu phương với tiền tuyến và luôn thực hiện vượt mức nghĩa vụ tuyển quân mà cấp trên giao, điển hình là các đơn vị: Tiểu khu Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Điện Biên, Đông Sơn, Nam Ngạn, Phú Sơn, Đông Hương, Đông Vệ... Nhiều gia đình đã có người con thứ 3, thứ 4, thứ 5 lên đường đánh giặc. So với chỉ tiêu được giao năm 1972, Thị xã đạt 102,2% đối với nam, 258,3% đối với nữ, bằng 2 lần năm 1964, giành cờ thưởng thi đua đơn vị "Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân chi viện tiền tuyến năm 1972".

Chiều ngày 6-10-1972 giặc Mỹ sử dụng bom điều khiển bằng tia laze đánh sập cầu Hàm Rồng. Để bảo đảm giao thông thông suốt, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, lực lượng quân đội, quân và dân Thị xã đã khẩn trương làm mới 3 cầu phao trên đoạn sông Mã, từ làng Giàng đến Nam Ngạn, để xe ôtô vượt qua sông Mã từ bờ Bắc sang bờ Nam an toàn.

Ngành đường sắt mở thêm trạm chuyển tải II, sau khi cầu Hàm Rồng bị đánh sập. Ngoài việc dùng xà lan chở hàng sang bờ Nam, còn dùng xe goòng chở hàng chạy trên đường ray "dã chiến", sau khi cầu bị đánh, chưa chữa kịp. Một đầu tầu hỏa trực sẵn ở bờ Nam, để kéo những toa goòng hàng từ bờ Bắc sang trong đêm tối. Khi đã chuẩn bị đủ hàng thì tàu hỏa mới chuyển tiếp vào tuyến trong.

Đoàn xếp dỡ I và đoàn xếp dỡ Đông Xuân Thị xã, khi có lệnh huy động lúc nào cũng sẵn sàng và tích cực, hăng hái bốc xếp hàng đưa vào kho, hoặc bốc lên tàu, xe, thuyền đưa vào tuyến trong.

Các điểm và phương tiện vượt sông Mã như ca nô, kéo phà, cầu phao… được tổ chức rất đa dạng, nên đã giải quyết được tình trạng giao thông ùn tắc. Bình quân số lượng xe pháo vượt sông Mã đạt 500 xe/đêm; đột xuất 1.600 xe/đêm. Tuyến vận tải thô sơ vào Nghệ An hình thành; Tỉnh giao cho Thị xã huy động 500 xe đạp, vận chuyển 3.600 tấn hàng hóa và 300 tấn vận chuyển bằng thuyền, trong thời gian 3 tháng. Thị xã đã huy động 571 xe đạp thồ của ngành tiểu, thủ công nghiệp, 6 tiểu khu và 5 xã, hoạt động theo các tuyến.

Tuyến Nam Thanh - Bắc Nghệ do đại đội xe đạp thồ của các hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đảm nhận, vận chuyển được 605 tấn, vượt nhiệm vụ 80 tấn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đảm bảo lực lượng an toàn. Tuyến II, vận chuyển từ các nơi tập kết hàng vào kho ở Thị xã, do các đại đội xe thồ các tiểu khu và các xã đảm nhiệm, đã vận chuyển được 7.691 tấn. Tuyến vận tải thuyền vượt kế hoạch được giao 2%.

Cuối tháng 12-1972, sau thất bại thảm hại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm ở Hà Nội, đế quốc Mỹ  buộc phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt ném bom miền Bắc, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Sáng sớm ngày 16-1-1973 lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh núi Ngọc, chào mừng chiến công hiển hách của quân dân Hàm Rồng đã bắn rơi 117 máy bay Mỹ. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, đã có 7 đơn vị được Nhà nước tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Đại đội 4 pháo cao xạ 37 ly, Nhà máy điện Thanh Hóa, Đội cầu 19-5, đồn Công an Nhân dân vũ trang Hàm Rồng, Đại đội dân quân Nam Ngạn, Trung đoàn pháo cao xạ 228 và Đội phòng cháy chữa cháy Công an Thị xã Thanh Hóa.

Vấn đề đảm bảo việc làm, bảo đảm thu nhập và cuộc sống ổn định cho lao động trong các hợp tác xã thủ công nghiệp, hợp tác xã vận tải khi sơ tán khỏi Thị xã là một thắng lợi lớn, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh cực kỳ ác liệt. Trẻ em trong độ tuổi đến trường đi học đều, người già cô đơn được chăm sóc, xã viên các hợp tác xã nông nghiệp vượt qua bom đạn vẫn bám sát đồng ruộng, cấy hết diện tích và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, các gia đình thương binh - liệt sĩ, gia đình có con em chiến đấu ở chiến trường B, C đều được quan tâm chăm sóc. Tất cả những việc làm trên thể hiện sự quan tâm chăm lo cuộc sống đồng bào của Thị ủy, chính quyền, các tổ chức quần chúng, của khối đoàn kết toàn dân và cũng là biểu hiện tính ưu việt của chế độ mới.

Để tuyên dương thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra ở miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam trong năm 1972, Nhà nước đã tặng thưởng: Huân chương Chiến công cho đơn vị Xí nghiệp Mộc Thanh Hóa, đơn vị Tự vệ Thủ công nghiệp Thị xã, Tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho nhân dân và lực lượng tự vệ Thị xã Thanh Hóa.

IV. XÂY DỰNG THỊ XÃ SAU CHIẾN TRANH, CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN, GÓP PHẦN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1973 - 1975)

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của đồng bào chiến sĩ trên toàn miền Nam cùng với chiến công của quân và dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của địch vào Hà Nội - Hải Phòng tháng 12-1972, đã buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt toàn bộ cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Ngày 27-1-1973 Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết.

Cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi căn bản, có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Nhân dân miền Bắc tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm tốt hơn nữa nghĩa vụ chi viện của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là điều kiện và thời cơ thuận lợi để quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Thanh Hóa, ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết (27-1-1973), Thị ủy đã chỉ đạo thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa về tổ chức khôi phục, xây dựng lại Thị xã; giúp đỡ các cơ quan cấp tỉnh từ nơi sơ tán trở về Thị xã.

Ngày 14-1-1973, Chủ tịch Ủy ban hành chính Tỉnh Thanh Hóa ban hành quy định hướng dẫn việc xây dựng lại Thị xã sau chiến tranh, bảo đảm các yêu cầu về giữ gìn trật tự, tuân theo quy hoạch, đảm bảo mỹ quan, tránh việc phá đi, làm lại gây lãng phí tiền của, công sức của nhân dân, của Nhà nước. Ngày 27-1-1973, Ủy ban hành chính tỉnh đã có văn bản hướng dẫn tiến hành mọi mặt khôi phục, xây dựng lại Thị xã. Các cơ quan Thị ủy, Ủy ban hành chính và các đoàn thể Thị xã đã khẩn trương di chuyển về Thị xã để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp cho các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân hồi cư về Thị xã.

Từ tháng 3 đến tháng 6-1973, trong đợt di chuyển lần 1, có 36 cơ quan Dân Chính Đảng của Tỉnh và Thị xã Thanh Hóa từ nơi sơ tán trở về Thị xã; các cơ quan còn lại trở về Thị xã từ tháng 7-1973 (đợt 2).

Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Thị ủy, các cấp ủy Đảng cùng với chính quyền đã tích cực tổ chức cho nhân dân Thị xã hồi cư, xây dựng lại Thị xã tỉnh lỵ sau những tháng năm bị giặc Mỹ phá hoại hết sức nặng nề.

Được sự giúp đỡ của nhân dân các xã ven thị, các huyện miền núi như Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân về luồng, nứa, tranh tre, nhân dân Thị xã đã nhanh chóng làm lại nhà cửa đã bị tàn phá, đổ nát bởi bom đạn của đế quốc Mỹ.

Song song với xây dựng công sở, nhà xưởng, bệnh viện, trường học, kho tàng,... Thị ủy tích cực lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân khẩn trương khôi phục và phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng ngàn bộ đội, thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, các gia đình nạn nhân chiến tranh.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng đã tổ chức, vận động hội viên, cùng các tầng lớp nhân dân tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm; tham gia công tác hậu phương quân đội; nâng cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu; tiếp tục đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Vụ mùa năm 1973 do ảnh hưởng nặng nề của bão lụt, Thị xã bị nhiều thiệt hại lớn: 1.261 ha lúa bị mất trắng; 100 ha còn lại bị giảm năng suất nhiều, chỉ còn thu hoạch được 263 tấn thóc. Trên 4 vạn hộ với hơn 2 vạn nhân khẩu nông nghiệp thiếu ăn. Nông nghiệp mất mùa, nên việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng có phần chững lại.

Sau khi nhân dân hồi cư và các cơ quan lần lượt trở về, số người tăng thêm, nhưng diện tích đất làm nhà lại giảm vì mở rộng các tuyến đường hết 27 ha, đất cơ quan sử dụng tăng thêm 13 ha, nên phải di chuyển 1.584 hộ dân, đây là một vấn đề cấp bách và vô cùng phức tạp.

Do nhu cầu đất ở của nhân dân, Ban Quy hoạch thống nhất với Ủy ban hành chính Thị xã hình thành 2 khu dân cư mới: Tân An, Hoàng Văn Thụ với tổng diện tích trên 3.000m2 để bố trí cho 200 hộ dân. Ngoài ra còn quy hoạch đất cho 4 hợp tác xã vận tải thuyền, đất cho hợp tác xã Nghĩa Phương trở về và gần 200 hộ công nhân viên chức chưa có nhà ở. Đến hết năm 1973, nhân dân Thị xã làm và sửa chữa được 2.718 ngôi nhà, trong đó có 229 nhà ngói.

Năm học 1973-1974, Thị xã tập trung kinh phí xây dựng mới 86 phòng học trong khu vực nội thị (trong đó có 57 phòng lợp ngói); xây dựng Trường cấp III Lam Sơn với tổng diện tích 5.140 m2, xây dựng Trường cấp III Hàm Rồng. Trường cấp III Lam Sơn tiếp tục mở thêm các lớp năng khiếu và mở thêm 2 lớp 8.

Năm học 1973-1974, Thị xã Thanh Hóa có 15.603 học sinh phổ thông ba cấp I, II, III (gấp 2 lần so với năm 1964). Đến năm học 1977-1978, toàn Thị xã có 21.293 học sinh cấp I, II, III; số học viên bổ túc văn hóa tăng lên 2.900 người, tính bình quân cứ 4 người dân có 1 người đi học. Trong năm học này, Thị xã hợp nhất các lớp vỡ lòng vào các Trường cấp I với tổng số 1.288 em. Số học sinh tăng nhanh đòi hỏi phải xây dựng và mở rộng trường lớp. Đảng bộ và nhân dân Thị xã đã quan tâm tu sửa và xây dựng, củng cố cơ sở vật chất trường lớp; đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt”, nhờ đó chất lượng giáo dục được nâng lên. Toàn Thị xã có 114 giáo viên đạt danh hiệu “Giáo viên Thăng Long”.

Thư viện thiếu nhi được thành lập với gần 4.000 đầu sách, thường xuyên có trên 300 độc giả nhỏ tuổi, hè năm 1974 mở được 3 lớp ca nhạc, hội họa cho hơn 200 em. Thị xã có 8 đội thông tin lưu động, 22 tổ truyền tin gồm 85 người hoạt động tích cực, kịp thời chuyển tải tin tức chiến tranh từ chiến trường miền Nam, những tin tức nóng hổi trong nước và trên thế giới đến với các tầng lớp nhân dân. Một số công trình thể dục - thể thao được quan tâm xây dựng; đã san lấp mặt bằng xây dựng sân vận động Thị xã và sân chơi thiếu niên (ở khu vực bến ô tô Vinh cũ, nay là công viên phía Nam đường Nguyễn Bá Ngọc).

Khi có chủ trương hồi cư, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã tập trung di chuyển hàng trăm tấn máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa từ nơi sơ tán về Thị xã, sửa chữa và xây dựng lại nhà xưởng, trang bị thêm máy móc, công cụ, ổn định sản xuất, đảm bảo đời sống xã viên. Nhiều mặt hàng mới đã ra đời: Vỏ ca nô, xà lan do Tập đoàn Nam Kỳ 40 sản xuất, máy bóc sắn, két bạc và khóa tủ của hợp tác xã Hợp Tiến, Chiến Thắng. Vành xe cải tiến, quạt bàn nhỏ tai thỏ của hợp tác xã Phương Nam; hàng sành tráng men của hợp tác xã Quyết Thắng; bóng đèn đánh cá biển của hợp tác xã Thống Nhất. So với năm 1971, sản xuất phụ tùng xe đạp năm 1974 tăng gấp 2 lần, vôi tăng 1,5 lần, gạch tăng 10 lần, ngói tăng 3 lần...

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp những năm 1973-1975 được phục hồi nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, năm 1975 vượt kế hoạch 12%, 26/36 hợp tác xã đã hoàn thành vượt mức kế hoạch.

Sau chiến tranh, đồng ruộng còn rải rác nhiều bom đạn, vì vậy công việc tháo gỡ, rà phá bom mìn được tiến hành khẩn trương, công tác san lấp hố bom trả lại mặt bằng cho đồng ruộng được triển khai tích cực. Công tác thủy lợi, hoàn chỉnh thủy nông được chú trọng. Khối lượng đào đắp kênh mương trong 3 năm 1973 - 1975 lên đến 150.000m3, 1.000ha mặt ruộng được hoàn chỉnh tưới tiêu. Lượng phân bón được khai thác phục vụ sản xuất. Tất cả 12 hợp tác xã nông nghiệp đều tiến hành tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý theo tinh thần các Chỉ thị 208-209 của ban Bí thư Trung ương Đảng. Vùng rau chuyên canh đã được nâng lên, 7,4ha rau nước và 40ha rau cạn trên đất các hợp tác xã Đông Vệ, Phú Sơn, Công Nông, Quảng Thắng. Nhiều hợp tác xã quyết tâm đưa chăn nuôi lên sản xuất chính như: Quảng Thắng, Phú Sơn, Minh Khai. Năm 1973 do ảnh hưởng bão lụt nặng nề, nông nghiệp chỉ thu hoạch được 2.796 tấn, thì năm 1974 thu hoạch tăng gấp hơn 2 lần (6.090 tấn thóc, đạt năng suất 5,020 tấn/ha).

Cùng với giải quyết hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, công tác tuyển quân trong 3 năm 1973 - 1975 đều vượt nhiệm vụ được giao cả 5 đợt; riêng năm 1975 chỉ giao trọn một đợt trong mùa Xuân vượt 33,9% nhiệm vụ. Ngoài ra còn tuyển thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, dân công phục vụ chiến trường C, thanh niên xây dựng kinh tế mới ... Thị xã được Tỉnh công nhận là một trong 5 đơn vị huyện, thị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người cho tiền tuyến.

Trước thắng lợi to lớn của chiến trường, ngày 31-3-1973, Bộ Chính trị họp chủ trương động viên cao độ nhanh chóng lực lượng của cả nước, giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là tháng 4 không để chậm trễ. Tiếp đó, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Chiến dịch được vinh dự mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh "Độc Lập" báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cả nước đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Bác Hồ trước lúc Người đi xa "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội vang về Thị xã Thanh Hóa. Cả Thị xã tràn ngập cờ, hoa và biểu ngữ, những nét mặt hân hoan, rạng rỡ trong niềm vui lớn của toàn dân tộc.

Ngày 30 - 4 - 1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết đặc biệt về tổ chức các hoạt động chào mừng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Thực hiện Nghị quyết, Thị ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành trên  địa bàn Thị xã đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Các cấp, các ngành, cơ quan và dân Thị xã đã tổ chức các cuộc mít tinh, tuần hành, treo cờ kết hoa, rước ảnh Bác Hồ, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng chiến thắng. Đồng thời, tổ chức phát động chiến dịch thi đua lấy tên “Chiến dịch mừng giải phóng Sài Gòn” từ ngày 1-5 đến ngày 19-5-1975, nhằm hoàn thành kế hoạch công tác, tạo chuyển biến mới về mọi mặt.  

Ngày 1-5-1975, Ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày lễ mừng chiến thắng của toàn dân tộc Việt Nam, của cán bộ và nhân dân Thị xã. Hơn một vạn người kéo về Nhà hát nhân dân dự mít tinh tuần hành, chào mừng ngày toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Mười năm vừa sản xuất vừa chiến đấu, Đảng bộ Thị xã đã lãnh đạo nhân dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, dưới ánh sáng của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc chiến đấu một mất, một còn với kẻ thù, ý chí quyết chiến, quyết thắng của nhân dân Thị xã càng được hun đúc hơn bao giờ hết và đã trở thành sức mạnh vô địch, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trong mười năm đó, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa đã đưa tiễn 5.413 thanh niên lên đường ra tiền tuyến. Hàng trăm gia đình có từ 4 đến 7 con nhập ngũ. Trong sản xuất chiến đấu và phục vụ chiến đấu nơi mảnh đất Hàm Rồng, Nam Ngạn rực lửa và rực rỡ chiến công đánh Mỹ và thắng Mỹ, những người con của Thị xã đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng như: Ngô Thị Tuyển, Lê Kim Hồng, Đỗ Chanh (Nhà máy Điện); và hàng trăm liệt sĩ, thương binh đã hy sinh xương máu, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa quê hương vững bước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hòa cùng niềm vui thắng lợi vĩ đại của dân tộc, từ ngày 26 đến ngày 31-3-1975, tại Hội trường Thị ủy, Đảng bộ Thị xã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ IX. Đại hội đã nghe báo cáo về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ trong nhiệm kỳ khóa VIII. Đại hội nhất trí đánh giá: "Bốn năm qua, liên tục phấn đấu cách mạng sôi nổi, động viên toàn Đảng bộ và nhân dân Thị xã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn phong trào Thị xã có chuyển biến mới, giành được những thành tích quan trọng, nhất là về chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giao thông vận tải, trật tự  trị an đạt những thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đại hội Đảng bộ Thị xã. Đã có chuyển biến bước đầu thực hiện Nghị quyết 19, 20, Nghị quyết 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng".

Bên cạnh những thành tích đạt được, Đại hội cũng nghiêm khắc kiểm điểm những hạn chế còn tồn tại trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đó là: "So với yêu cầu của thời kỳ mới, mục tiêu của Đại hội Thị Đảng bộ và phương hướng các Nghị quyết 19, 20, 22 của Trung ương Đảng, những thành tích đạt được chưa tương xứng mà còn nhiều khuyết nhược điểm trong các mặt chiến đấu và trị an, khôi phục và phát triển, kinh tế còn chậm, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp c òn trì trệ, và việc củng cố xây dựng hợp tác xã còn buông lỏng khá dài, công tác quản lý lao động, tài vụ chưa được chặt chẽ, lao động chưa tập trung vào sản xuất nông nghiệp”, ...

Đại hội đã dành nhiều thời gian kiểm điểm, đánh giá công tác xây dựng Đảng. Đại hội nhấn mạnh đây là công tác trọng tâm, then chốt và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với Thị xã - Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng là nơi tập trung đầu mối giao thông quan trọng.

Căn cứ đặc điểm, tình hình mới của Thị xã, Đại hội ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ chung năm 1975 và những năm tới là:

1. Tập trung mọi khả năng sức lực của các ngành, các cấp đẩy mạnh sản xuất kinh tế phát triển, nhằm sử dụng hết mọi khả năng lao động xã hội là khâu cơ bản nhằm phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, thúc đẩy mọi mặt văn hóa - xã hội trong năm 1975 và những năm tới.

2. Tăng cường công tác quản lý kinh tế, văn hóa, quản lý thị xã, quản lý Nhà nước làm cho các mặt quản lý có những tiến bộ rõ rệt, phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, nhằm củng cố và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả hai khu vực quốc doanh và tập thể, tổ chức xây dựng cuộc sống mới tươi vui, lành mạnh.

3. Nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, tăng cường công tác quân sự địa phương, công tác bảo vệ trật tự trị an xã hội, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, ngăn ngừa và đánh bại mọi hành động chiến tranh tâm lý gián điệp và mọi hoạt động phá hoại của địch, đáp ứng đầy đủ nhất các yêu cầu chi viện người và của cho cách mạng miền Nam...

Để thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ trên, cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Phát động quần chúng thi đua lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm; tăng cường công tác quản lý, củng cố và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

- Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ các tệ nạn xã hội và những tư tưởng hành động tiêu cực trong tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, tổ chức đời sống xã hội.

- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, chú trọng các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và kiểm tra, phấn đấu năm 1975 đạt 70% đảng viên phấn đấu tốt, loại trừ đảng bộ quá kém.

Đại hội cũng đã đề ra chủ trương tăng cường củng cố chính quyền, kiện toàn tổ chức và cải tiến lề lối làm việc từ cấp thị đến tiểu khu, có đủ năng lực quản lý kinh tế, quản lý hành chính địa phương, bảo đảm thật sự có hiệu lực trong quản lý nhà nước và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ khóa IX gồm 21 đồng chí;  Ban Thường vụ gồm 6 đồng chí. Đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư Thị ủy, đồng chí Thiều Quang Mộc làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã).

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa IX, Đảng bộ Thị xã có bước trưởng thành nhanh chóng và toàn diện. Đội ngũ cán bộ ngày càng được tăng cường và luôn đoàn kết, thống nhất, tổ chức Đảng thường xuyên được củng cố chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã biểu thị lòng trung thành vô hạn, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sản xuất, học tập và công tác.

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ rất chú trọng nâng cao năng lực, trình độ nhận thức và lý  luận của cán bộ, đảng viên, quan tâm đào tạo và đề bạt cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ nghiệp vụ cao; kiện toàn cấp ủy Đảng các tiểu khu, xã, cơ quan, xí nghiệp. Đồng thời đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc, chống tệ quan liêu, mệnh lệnh, nhắc nhở cán bộ, đảng viên tăng cường mối quan hệ với quần chúng. Đảng bộ Thị xã đã mở nhiều đợt giáo dục, rèn luyênnâng cao đạo đức cách mạng, phòng chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên.

Tính đến tháng 3 - 1975, Đảng bộ Thị xã có 108 tổ chức Đảng trực thuộc với 3.460 đảng viên. Chất lượng đảng viên đã từng bước được nâng lên; đảng viên trẻ chiếm 24,65%, đảng viên đứng tuổi 48,95%[2].

Về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của đảng viên nói chung còn thấp, trong đó: Cấp I có 22,6%; Cấp II có 66%; Đại học, trung học 13,24%, sơ cấp 8,48%.

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chất lượng cán bộ, đảng viên qua bình xét phân loại 6 tháng đầu năm 1974 như sau: Phấn đấu tốt 1.225 đồng chí, chiếm 57,16%; chưa tốt 767 đồng chí, chiếm 35,79%; yếu kém 151 đồng chí, chiếm 7,04%.

Đảng bộ đã lãnh đạo kiện toàn, củng cố, xây dựng các cơ sở Đảng yếu kém, phát triển và nhân các điển hình về cơ sở Đảng vững mạnh. Chế độ sinh hoạt thường kỳ hàng tháng được giữ vững, nội dung sinh hoạt nhìn chung đảm bảo chất lượng và giữ vững định kỳ đưa đảng viên kiểm điểm trước quần chúng, để quần chúng góp ý xây dựng, đã có tác dụng tốt trong công tác xây dựng Đảng. Công tác cán bộ được triển khai nghiêm túc; tiến hành lập quy hoạch đội ngũ cán bộ. Trong năm 1973-1974, đề bạt 18 cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể của Thị xã.

Trên cơ sở đó, Thường vụ Thị ủy yêu cầu các ban của Đảng và các cấp ủy Đảng phải quyết tâm phấn đấu xây dựng nhiều cơ sở vững mạnh, hạn chế và đi đến xóa chi bộ yếu kém; Đảng viên tốt phải đạt tỷ lệ cao, hạn chế tỷ lệ đảng viên trung bình, tiến tới xóa bỏ đảng viên yếu kém...

Công tác kiểm tra Đảng được tăng cường, Ban Thường vụ Thị ủy đã có nhiều biện pháp tích cực, giải quyết kịp thời các vụ việc, đơn thư tố giác cán bộ, đảng viên, nhất là năm 1973 và 1974. Trong công tác kiểm tra, tập trung thực hiện Chỉ thị 192 đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, trong đợt 2 thực hiện Chỉ thị 192 đã hoàn thành ở 43 điểm, đẩy mạnh thực hiện đợt 3 trong khối xí nghiệp,... Việc thực hiện Chỉ thị 192 của các điểm nhìn chung đảm bảo yêu cầu và thời gian.

Công tác xử lý đảng viên vi phạm được tiến hành thường xuyên và kịp thời, đảm bảo nguyên tắc thấu tình, đạt lý; đã xử lý 313 vụ, trong đó khai trừ 143 đảng viên, lưu Đảng 56 đảng viên; xử lý ngoài 5 hình thức là 29 đảng viên, chiếm 10,20% so với tổng số đảng viên; qua đó, ổn định tình  hình nội bộ và được dư luận rất đồng tình.

Tuy vậy so với nghị quyết của Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng còn biểu hiện một số nhược điểm:

- Công tác giáo dục tư tưởng chưa kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức, chưa coi trọng việc giáo dục chủ trương, chính sách lúc giao thời. Vấn đề bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chủ chốt chưa kịp thời.

- Một bộ phận đảng viên trực tiếp sản xuất trong khu vực tập thể và khu vực quốc doanh, còn có tư tưởng thu vén cho cá nhân, chưa tích cực tham gia công tác chung.

- Công tác cơ sở Đảng chưa được coi trọng thường xuyên, nội dung sinh hoạt chi bộ còn lúng túng, chất lượng kém, chi bộ yếu kém còn nhiều. Công tác xây dựng Đảng chưa gắn liền với việc phát động quần chúng và đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

Đội ngũ cán bộ chủ chốt đương chức chưa được bồi dưỡng, đào tạo kịp thời và chậm điều chỉnh, bố trí lại cho phù hợp với yêu cầu mới.

Công tác vận động quần chúng được các cấp ủy Đảng quan tâm, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kịp thời tổng kết, biểu dương thành tích của nhân dân Thị xã trong sản xuất, chiến đấu, động viên được tinh thần tự hào, phấn khởi, phát huy truyền thống anh hùng trong chiến đấu, khắc phục khó khăn do chiến tranh, thiên tai gây ra; gây được  phong trào tự giác của nhân dân, động viên quần chúng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.

Đoàn thanh niên Thị xã phát huy truyền thống "Ba sẵn sàng", phát huy vai trò xung kích, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; là đội xung kích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trong sản xuất, xung kích xóa vết tích chiến tranh khu vực Hàm Rồng; tổ chức đắp đê, xây dựng công trình thủy lợi ... Công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng trong các trường học và khu vực đường phố bước đầu đi vào nền nếp.

Hội Phụ nữ đẩy mạnh phong trào "Ba đảm đang", nâng cao lòng tự hào phấn khởi, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chính sách hậu phương quân đội, động viên gia đình có quân nhân đang chiến đấu và công tác trên chiến trường B, C, khắc phục hậu quả lũ lụt, đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, đạt kết quả tốt.

Công đoàn Thị xã có nhiều biện pháp tích cực giáo dục đoàn viên ý thức làm chủ và nghĩa vụ lao động, tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn trong sản xuất, tổ chức đời sống, bảo vệ tài sản của các xí nghiệp ... thực hiện Nghị quyết 46 của Hội đồng Chính phủ và Tổng Công đoàn Việt Nam về việc hợp đồng kinh tế giữa Công đoàn và giám đốc xí nghiệp.

Hội phụ lão thúc đẩy phong trào "3 mẫu mực", động viên phong trào tòng quân, lao động sản xuất, trồng cây, tu sửa công viên, sửa chữa nhà cửa cho gia đình có con em chiến đấu trong chiến trường B, C bị địch đánh phá ... động viên các cụ phụ lão xây dựng nhà ở cho học sinh miền Nam. Công tác vận động quần chúng đồng bào vùng công giáo được quan tâm hơn trước. Tiêu biểu là các cụ phụ lão ở phố Trần Phú, tiểu khu Hoàng Hoa Thám được Mặt trận Tổ quốc Tỉnh tặng cờ khá nhất về chi viện và được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba về thành tích chi viện...

Hội đồng nhân dân Thị xã đã quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, động viên nhân dân làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước và thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ủy ban hành chính Thị xã đã đảm bảo chấp hành tốt các chủ trương của Thị ủy và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thị xã, tổ chức chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện tốt kế hoạch Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu, chi viện cho tiền tuyến, giữ gìn trật tự trị an, ổn định nơi ăn, chốn ở, đảm bảo đời sống nhân dân..., quản lý xã hội đạt kết quả tốt.

Trải qua 10 năm vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương, một chặng đường đầy gian khổ, khó khăn nhưng cũng rất tự hào, vẻ vang. Quán triệt và vận dụng đường lối đúng đắn sáng tạo vào tình hình cụ thể của địa phương, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Thị xã phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu, ra sức xây dựng và bảo vệ quê hương, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến.

Trên mặt trận kinh tế-xã hội, mặc dù trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, trong bối cảnh vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tập trung chi viện cho tiền tuyến, thiên tai thường xuyên xảy ra,… nhưng Thị xã vẫn đạt được những kết quả quan trọng.

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dựng và củng cố một bước, xóa bỏ nguồn gốc bóc lột tồn tại từ bao đời.

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được duy trì, hình thành một số cơ sở sản xuất quan trọng và khôi phục nhiều ngành nghề truyền thống. Ngành tài chính, thương nghiệp đã khắc phục khó khăn, vươn lên phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ngày một tốt hơn. Kinh tế nông-lâm nghiệp có những chuyển biến tích cực, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi tăng.

Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông phát triển nhanh, trở thành một trong những đơn vị có phong trào giáo dục mạnh của tỉnh. Công tác y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Hoạt động văn hóa-văn nghệ, thể dục thể thao góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao một bước.

Trong công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng, Đảng bộ và nhân dân Thị xã đã đạt những thành tích nổi bật, nhất là công tác đảm bảo sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi; hoàn thành tốt nghĩa vụ tuyển quân hàng năm; nâng cao cảnh giác và đấu tranh chống các thế lực phản động; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị được tăng cường. Đảng bộ Thị xã, đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu, trong công tác, có bước trưởng thành nhanh chóng, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, làm nòng cốt trong các phong trào thi đua của nhân dân thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam toàn thắng, non sông thu về một mối. “Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người”[3].

Trong chiến đấu bảo vệ quê hương, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã thể hiện rõ khí phách anh hùng, sáng tạo, dũng cảm, mưu trí đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ. Đảng bộ và nhân dân Thị xã huy động được nguồn lực mạnh mẽ nhất, góp sức người, sức của, cùng đồng bào và chiến sĩ Tỉnh Thanh Hóa và cả nước đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Những thành tựu đạt được, những bài học kinh nghiệm được tích lũy trong khói lửa chiến tranh chính là nguồn lực quí báu để Đảng bộ và nhân dân Thị xã bước tiếp sang một thời kỳ mới - thời kỳ cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 



[1] Những sự kiện lịch sự Đảng bộ huyện Đông Sơn (1954-1975).

[2]- Đảng viên kết nạp từ tháng 8-1945 trở về trước có 11 đồng chí.

- Từ tháng 8-1945 đến tháng 7-1954 có 734 đồng chí.

- Tháng 8-1954 đến tháng 12-1960 có 343 đồng chí.

- Tháng 1-1961 đến tháng 12-1964 có 429 đồng chí.

- Tháng 1-1965 đến tháng 12-1972 có 1.627 đồng chí.

- Từ năm 1973 đến tháng 3-1975 có 31 đồng chí.

 

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Nxb Sự  thật, Hà Nội, 1977, tr. 5-6 

CHƯƠNG V LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN VỪA SẢN XUẤT, VỪA CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC THẮNG LỢI (1965- 1975)

Đăng lúc: 01/11/2014 16:05:57 (GMT+7)

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

I. CHUYỂN HƯỚNG HOẠT ĐỘNG SANG THỜI CHIẾN, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN  TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA  ĐẾ QUỐC  MỸ (1965-1968)

          Sau những thất bại thảm hại liên tiếp của chính quyền và quân đội Sài Gòn - nhất là từ sau cuộc Đồng khởi của quân và dân ta ở miền Nam năm 1960, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ hoàn toàn sụp đổ. Trước tình hình đó, để cứu vãn thế thua, đế quốc Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa ồ ạt quân Mỹ vào miền Nam, đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Trước sự thay đổi chiến lược chiến tranh của Mỹ-ngụy và sự phức tạp của tình hình quốc tế, ngày 25-3-1965, Ban Chấp hành Trung Đảng (khóa III) đã tiến hành Hội nghị lần thứ 11, đề ra nhiệm vụ cho cả hai miền Nam – Bắc; đồng thời sẵn sàng đánh thắng “Chiến tranh cục bộ” nếu chúng mở rộng cả hai miền. Tiếp tục huy động lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam và cách mạng Lào.

Miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn và trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vì vậy phải chuyển hướng xây dựng nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, mỗi vùng có thể tự bảo đảm một phần nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, sinh hoạt, học hành. Chuyển hướng công tác tư tưởng và tổ chức đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất, vừa chiến đấu với khẩu hiệu “Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam”.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Thanh Hóa, Thị ủy kịp thời chỉ đạo toàn Đảng bộ, quân và dân Thị xã sẵn sàng đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chuyển hướng công tác tư tưởng, tổ chức, chuyển hướng phát triển kinh tế, văn hóa, giao thông vận tải sang thời chiến.

Thanh Hóa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là địa bàn chiến lược trọng yếu, chiếc “giáp sắt” bảo vệ Thủ đô Hà Nội; kho dự trữ chiến lược; chiếc cầu nối giữa miền Bắc với miền Nam. Vì vậy Đế quốc Mỹ luôn coi Thanh Hóa là trọng điểm đánh phá trong chiến tranh phá hoại, đặc biệt trên tuyến đường chi viện từ miền Bắc vào Nam và sang Lào. Giới quân sự Mỹ coi Hàm Rồng là điểm tắc lý tưởng, là “đầu mút cán xoong”, nên Thị xã Thanh Hóa trở thành một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của Tỉnh Thanh Hóa nói riêng và miền Bắc nói chung.

Từ sau ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ liên tục cho máy bay trinh sát bầu trời, đặc biệt là các tuyến đường giao thông chiến lược, khu vực quân sự và kinh tế tập trung, trong đó Thị xã Thanh Hóa và khu vực Hàm Rồng là một trọng điểm giặc Mỹ xác định sẽ tập trung đánh phá.

Ngày 13-2-1965, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn duyệt kế hoạch “Sấm rền” quyết định leo thang ném bom ra miền Bắc đến vĩ tuyến 19.

Ngày 2-3-1965, chúng cho máy bay xâm phạm bầu trời Thanh Hóa, bắn đạn 20 ly, rốc két xuống các huyện Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Xuân. Đồng thời cho máy bay nhiều lần trinh sát khu vực Hàm Rồng và Thị xã. Thị xã Thanh Hóa và toàn miền Bắc đã thực sự bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Quyết đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngay từ trận đầu. Thị ủy đã tổ chức, tăng cường chỉ đạo các tiểu khu phố, các ngành, các lực lượng trong toàn thị tích cực củng cố thế trận của chiến tranh nhân dân, bổ sung sửa đổi các phương án tác chiến, sơ tán phòng không, các phương án xây dựng phát triển lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1965, trên địa bàn Thị xã Thanh Hóa, tỉnh đã lập Bộ chỉ huy mặt trận Hàm Rồng với nhiệm vụ chỉ huy thống nhất 5 cụm hỏa lực hỗn hợp (cụm phía Bắc, cụm trung tâm, cụm Nam Ngạn, cụm phía Tây Nam, cụm ở 2 mố cầu), mỗi cụm đều có khả năng tác chiến độc lập, đồng thời cùng phối hợp chiến đấu chung.

Được sự giúp đỡ và chỉ đạo của Quân khu III và tỉnh đội Thanh Hóa, Thị đội đã liên tục mở các lớp tập huấn bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh, huấn luyện pháo thủ dự bị, sử dụng khí tài thông tin, khí tài phòng hóa. Cuối tháng 2 năm 1965, trung đội xí nghiệp Mộc xẻ bến Cốc được trang bị khẩu cao xạ 20 ly, được Thị đội giao nhiệm vụ đón đánh máy bay địch từ phía Nam vào Thị xã, khu vực Hàm Rồng và ngược lại. Trung đội nữ dân quân Nam Ngạn được trang bị các loại súng thượng liên, súng trường và bố trí trận địa ở bờ sông Mã, đánh máy bay địch bay thấp từ phía cửa Lạch Trường lên và phối hợp phục vụ hải quân chiến đấu. Lực lượng tự vệ Thị xã đã hình thành 27 tổ bắn máy bay bay tầm thấp.

Nguyên tắc “Ba nên” và “Ba không nên” được Thị đội đưa thành chỉ lệnh cho các đơn vị tự vệ.

Công tác sơ tán phòng tránh đã được Thị ủy chỉ đạo chặt chẽ và chu đáo, nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Khi bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, các ngành đã khẩn trương sơ tán lên xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn.

Trong nội thị đã có 3.916 hộ với 17.398 nhân khẩu, 167 cơ quan xí nghiệp với 9.500 cán bộ, nhân viên sơ tán khỏi Thị xã, phụ huynh học sinh cho con em chuyển về học ở các trường nông thôn. Những nơi nhân dân sơ tán đến đã thành lập Ban đại diện Hành chính để giữ mối liên hệ với Ủy ban Hành chính Thị xã và giải quyết những việc được Ủy ban Hành chính Thị xã ủy nhiệm.

Các lực lượng cơ động phục vụ chiến đấu, các lực lượng đào bới, cứu tải thương được hình thành và có tổ chức chặt chẽ, có người chỉ huy. Một số đơn vị tự vệ hợp đồng cùng lực lượng cảnh sát chốt giữ những điểm quan trọng, để giám sát theo dõi những phần tử xấu, ngăn chặn hành động phá hoại của bọn phản động nội địa, giữ gìn tài sản của Nhà nước và của nhân dân.

Đầu tháng 3-1965, sau khi tham mưu các cấp xác định địa điểm các trận địa chính, phụ cho các loại pháo, khí tài quân sự của bộ đội cao xạ, thì hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ và nhân dân, hàng trăm thầy trò trường cấp 3 Lam Sơn được huy động liên tục ngày đêm đi đào đắp công sự, xây dựng trận địa pháo để đảm bảo cho các đơn vị đưa pháo, khí tài vào trận địa kịp thời. Để nghi binh đánh lừa địch, lực lượng thợ mộc trong các hợp tác xã thủ công nghiệp được huy động sản xuất hàng chục khẩu súng cao xạ bằng gỗ, mẫu mã như súng thật, được sơn đen, đưa đi bố trí ở các mặt trận giả, nhằm phân tán lực lượng địch khi chúng đánh vào trận địa ta. Lực lượng y tế, phòng cháy, chữa cháy của Tỉnh cũng được tăng cường cho Thị xã.

Để hạn chế sự thiệt hại do đế quốc Mỹ gây ra, đảm bảo yêu cầu vừa sản xuất, vừa chiến đấu, thực hiện Thông báo của Trung ương Đảng ngày 26-6-1965 về việc chuyển hướng kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chuyển hướng phát triển kinh tế - văn hóa - giao thông vận tải, chuyển hướng công tác tư tưởng tổ chức từ thời bình sang thời chiến. Nghị quyết của Tỉnh ủy ngày 20-11-1965 đã ghi rõ: "Chuyển hướng công tác tư tưởng, tổ chức đảm bảo hai nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và quốc phòng, sản xuất xây dựng và chiến đấu nhằm phát huy tiềm lực to lớn toàn diện, đáp ứng yêu cầu của địa phương, của Trung ương và nhiệm vụ quốc tế".

Quán triệt tinh thần thông báo của Ban Bí thư của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy, Thị ủy Thanh Hóa căn cứ vào tình hình cụ thể địa phương đã bàn định kế hoạch triển khai tinh thần trên cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - giao thông vận tải, quốc phòng - an ninh. Các phong trào "Tay búa, tay súng", "Tay cày, tay súng", "Tiếng hát át tiếng bom", "Đảm bảo giao thông thông suốt" đã được phát động rộng rãi với mục đích đánh bại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bảo đảm đời sống nhân dân và xây dựng hậu phương vững mạnh chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Vào hồi 11 giờ 30 ngày 2-4-1965, máy bay địch từ phía Bắc bay dọc đường 1A vào trinh sát khu vực Thị xã, tiếp đó 1 tốp 2 chiếc F101 bay sà thấp lướt qua trinh sát khu vực Hàm Rồng. Đây là ngày địch trinh sát liên tục, nhiều lần ở khu vực Hàm Rồng, thể hiện ý đồ chuẩn bị những đợt đánh phá lớn.

Tối 2-4-1965, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điện thông báo cho Bộ Tư lệnh Quân khu III về việc "Địch sẽ đánh lớn vào Hàm Rồng ngày 3 tháng 4". Bộ Tư lệnh quân khu III điện thông báo nhận định của Bộ và Quân khu xuống Tỉnh đội Thanh Hóa, nhấn mạnh: "Phải đánh chắc, đánh trúng, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, bảo vệ được mục tiêu, tiết kiệm đạn dược".

Thực hiện mệnh lệnh đó, đồng chí Trung tá Thái Tứ, Tỉnh đội trưởng chỉ huy cụm chiến đấu khu vực Hàm Rồng nhanh chóng đưa lực lượng phòng không vào tư thế sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh thắng địch ngay trận đầu. Nhân dân Thị xã Thanh Hóa sơ tán khỏi khu vực. Các ngành Giao thông, Y tế, Lương thực, Thực phẩm, Thương nghiệp chuẩn bị người và phương tiện phục vụ chiến đấu. Dân quân, thanh niên, phụ nữ các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, tiểu khu khẩn trương củng cố hầm hào công sự.

Hội nghị chỉnh huấn mùa Xuân của Thị ủy Thanh Hóa chuyển thành Hội nghị phổ biến mệnh lệnh chiến đấu. Thường vụ Thị ủy quyết định: phân tán nhân dân ra khỏi thị xã 5 km, xóm Nghĩa Phương, Đông Thọ, Đông Tân, Đông Quang, tiểu khu Nam Ngạn sơ tán triệt để. Đúng 21 giờ ngày 2-4-1965, Thị đội triệu tập chỉ huy các đơn vị dân quân tự vệ truyền đạt tình hình nhiệm vụ và quy định mới về chế độ sẵn sàng chiến đấu.

Hai Hội nghị rất quan trọng ấy đã kịp thời phổ biến những mệnh lệnh chiến đấu nóng bỏng đến từng cơ sở, truyền đạt quyết tâm đánh giặc cứu nước đến cán bộ, đảng viên và đến mọi người dân trong Thị xã. Trong hoàn cảnh cực kỳ khẩn trương và gấp rút, sự lãnh đạo chặt chẽ thống nhất, kịp thời của Thị ủy có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Mặt trận bảo vệ Thị xã và khu vực Hàm Rồng được tổ chức thành nhiều lực lượng, tầng lớp: các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; dưới sông có Hải quân; trên trời lần đầu tiên Không quân ta tham chiến. Sự phối hợp đó chứng tỏ ý nghĩa và tầm quan trọng của trận chiến đấu sắp xảy ra. Nhân dân Thanh Hóa nói chung và nhân dân Thị xã Thanh Hóa nói riêng sục sôi ý chí quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ.

Đúng như nhận định của cấp trên, 8 giờ 45 phút ngày 3-4-1965, địch mở cuộc tấn công trước vào Đò Lèn. Đánh Đò Lèn trước, địch hy vọng cắt đứt tuyền đường tiếp tế của ta trước khi đánh Hàm Rồng, đồng thời làm cho ta phải phân tán lực lượng, chúng cho rằng nếu giành thắng lợi ở Đò Lèn sẽ kích thích tính cuồng nhiệt của bọn giặc lái và uy hiếp tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

Nhưng chúng đã vấp phải lưới lửa phòng không nhân dân đánh trả quyết liệt, lại bị không quân ta đánh bất ngờ, nên đến 9 giờ 50 phút máy bay địch phải chấm dứt đợt tấn công vào Đò Lèn. Lần đầu tiên giáp mặt với đế quốc Mỹ có máy bay phản lực hiện đại, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu bắn rơi 5 máy bay, bắt sống 1 tên giặc lái ở Hậu Lộc.

Phán đoán cách đánh của địch nhằm cô lập Hàm Rồng để tiến công dứt điểm, Bộ Tư lệnh Quân khu III điện cho Sở Chỉ huy Cụm chiến đấu Hàm Rồng phải: "Luôn luôn tỉnh táo, địch sẽ đánh vào Hàm Rồng, kiên quyết tiêu diệt địch bảo vệ mục tiêu".

Đúng 13 giờ, không quân Mỹ được huy động với số lượng máy bay và bom đạn lớn nhất đánh phá một mục tiêu nhỏ hẹp là cầu Hàm Rồng và khu vực Thị xã. Từng tốp máy may phản lực đủ các loại F105, F8, RE101 lao vào đánh phá cầu liên tục trong 2 giờ 35 phút. Bầu trời Hàm Rồng và Thị xã vang rền tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, mặt đất rung chuyển bởi những loạt đạn bom hạng nặng dồn dập dội xuống.

Quân và dân Hàm Rồng bám chắc trận địa chiến đấu, với tinh thần quả cảm anh dũng quyết chiến và quyết thắng. Đạn pháo cao xạ các cỡ, đạn súng máy của tự vệ các xí nghiệp Lò Cao, Phân lân, Máy xay, Máy điện ... nổ vang trời như bão lửa bủa vây từng tốp máy bay giặc Mỹ.

Tổ Trung liên Núi Ngọc đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió, ở đây có 3 đồng chí chiến sĩ trẻ: Phạm Gia Huấn, Nguyễn Hữu Nghị và Trần Văn Liền với một khẩu trung liên. Bố trí trận địa này, phía ta nhằm phát huy ưu thế tuyệt đối của địa hình, tạo nên một lưỡi gươm nhọn sắc đâm thẳng vào cổ họng kẻ địch khi chúng bổ nhào ném bom. Sau vài lần công kích, địch phát hiện hỏa điểm lợi hại này nên tổ chức nhiều đợt tấn công liên tục. Ba chiến sĩ người bị vùi trong đất, người bị hất ra khỏi công sự, xạ thủ Nghị bị ngất lịm bên chiến hào, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục chiến đấu, mặc dù khắp thân thể rớm máu, cổ họng khát khô.

Trên các hướng khác, địch luồn sâu cũng bị đánh trả dồn dập. Đại đội 2 Pháo cao xạ 37 ly cụm trận địa Nam Ngạn; Đại đội 4 Cao xạ 37 ly thuộc Tiểu đoàn 14 Sư đoàn 350 đóng trên đồi 75; Trung đội 14,5 ly bộ đội địa phương đóng trên đồi 74; Phân đội Hải quân ... cùng các trận địa dân quân tự vệ trong khu vực chủ động phối hợp tạo thành một lưới lửa nhiều tầng, nhiều lớp đập tan mọi thủ đoạn xảo quyệt của địch. Có thể nói mỗi cụm chiến đấu là một lá chắn thép kiên cường, một mũi tấn công mạnh đẩy địch vào thế bị động. Trang bị vũ khí của dân quân tự vệ Hàm Rồng chủ yếu là súng trường K44, một số ít súng trung và thượng liên. Với những thứ vũ khí có trong tay và lòng dũng cảm ngoan cường, các đơn vị dân quân liên tục tấn công máy bay địch, buộc chúng lên cao để bộ đội cao xạ và Không quân ta tiêu diệt.

Để có khả năng đánh địch tốt hơn, tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng đưa súng lên nóc nhà máy. Đây là trận địa táo bạo có một không hai trong chiến tranh, anh em chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận thương vong để đánh địch bảo vệ mục tiêu. Cuộc chiến đấu tiếp diễn nhiều đợt trên khắp các ngả đường khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn, từng tốp dân quân tỏa đi tiếp đạn, tải thương, nhiều anh chị em chèo thuyền đưa đạn, chở pháo thủ dự bị đến từng trận địa. Các mẹ, các chị trong thôn xóm, các nhân viên mậu dịch quốc doanh tổ chức nấu cơm nước đưa ra từng trận địa cho bộ đội và dân quân. Các em thiếu nhi tiếp lá ngụy trang, tham gia tiếp đạn cho bộ đội hải quân, như hai chị em Lê Thị Các, Lê Thị Mai, học sinh lớp 9 Trưởng cấp 3 Lam Sơn. Sư bà Đàm Thị Xuân trụ trì chùa Nam Ngạn đã bố trí nhà chùa làm nơi cấp cứu, điều trị thương binh.

Đến 17 giờ 11 phút, sau khi 17 máy bay bị tiêu diệt, địch phải ngừng đánh phá. Bất chấp mưa bom, bão đạn của kẻ thù, cầu Hàm Rồng vẫn sừng sững hiên ngang vắt qua đôi bờ sông Mã.



Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá. 

Ba nên: Nên đánh có tổ chức, có chuẩn bị, có chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ thống nhất, nên bắn ở cự lý có hiệu quả của từng loại súng và tiết kiệm đạn dược; nên bắn máy bay địch bổ nhào, máy bay bay thấp.

Ba không nên: Không nên đánh khi chưa có tổ chức chuẩn bị và không có chỉ huy, không nên bắn vuốt đuôi; không nên bắn xa, bắn ẩu, lãng phí đạn dược không đảm bảo an toàn cho đồng đội và nhân dân.

Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Quân khu III những năm tháng đánh Mỹ - Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Quyết - NXB QĐND, 1989, trang 25.

Hàm Rồng chiến thắng, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Thanh Hóa. NXB Thanh Hóa 1980, trang 28.

Biên đội không quân Phạm Ngọc Lan đã bắn rơi 2 máy bay F8 của Mỹ tại Đò Lèn.

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tập II (1954 - 1975). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr156.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/cauhamrongls.JPG

 

Chiến thắng của quân và dân khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn đã làm nức lòng nhân dân cả nước, làm cho không khí trong cơ quan và nhân dân các địa phương sôi động hẳn lên với một niềm tự hào và lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, vào sự chiến đấu dũng cảm của các lực lượng vũ trang. Đây là trận thắng ngay từ đầu, thắng một cách oanh liệt trước cuộc tấn công ồ ạt, hùng hổ đầy thách thức của "sức mạnh không lực Hoa Kỳ" mà chưa mấy ai hình dung trước được.

Ngay sau trận đánh, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Thị ủy và đại diện các ngành, các đoàn thể lần lượt đến từng trận địa động viên cán bộ, chiến sĩ. Từ Hà Nội, nhiều cơ quan Trung ương Đảng, nhà văn, nhà báo, quay phim, nhiếp ảnh... đã có mặt tại tuyến lửa nóng bỏng này. Cả nước hướng về Hàm Rồng, động viên cổ vũ Hàm Rồng đại thắng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thị ủy họp rút kinh nghiệm chiến đấu và xúc tiến mọi hoạt động để động viên tinh thần nhân dân. Sở Chỉ huy Cụm chiến đấu Hàm Rồng cùng với các đồng chí trong Đảng ủy, Chi ủy, xã đội, Thị đội mở Hội nghị rút kinh nghiệm và bổ sung phương án tác chiến. Các ngành Y tế, Bưu điện, Lương thực, v.v... lần lượt cử cán bộ về gặp Ban Chỉ huy cụm nhận kế hoạch phục vụ chiến đấu.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/tuongdaichienthang_namngan.JPG

 

 

Thị ủy chọn 500 tự vệ làm nhiệm vụ chuyển đạn qua sông; 2.000 người được đưa về  phía Bắc cầu để san lấp hố bom, thông đường cho xe qua lại, trên 3.000 người khác làm nhiệm vụ đào đắp công sự giúp bộ đội và dân quân tự vệ. Nhân dân các làng Nam Ngạn, Đông Sơn đỏ đèn, đỏ lửa nấu nước, chặt dừa, đốn lá ngụy trang đưa ra từng trận địa. Từng đoàn công nhân Nhà máy Điện, Lò cao, Xí nghiệp Cưa Bến Cốc, Nhà máy In Ba Đình quên mình kéo pháo, tải đạn, lau chùi vũ khí, làm công sự; cán bộ, công nhân viên ngành Y tế đều hết lòng cứu chữa thương binh và những người bị nạn. Từng đoàn xe chở đạn, kéo pháo nối đuôi nhau hối hả về Hàm Rồng.

Địch không thể ngờ rằng chỉ trong một đêm, bằng sức mạnh diệu kỳ của chiến tranh nhân dân, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, quân dân Thanh Hóa nói chung và quân dân Thị xã nói riêng đã lại ở tư thế sẵn sàng chờ đánh địch khi chúng liều lĩnh quay trở lại.

7 giờ 30 phút ngày 4-4-1965, địch tập trung đánh phá khu vực bến phà Ghép, là nơi xe pháo đang qua sông để hòng tiêu hao lực lượng ta và ngăn chặn lực lượng cơ động ra Hàm Rồng. Tại đây chúng đã bị bộ đội và quân dân hai bờ sông Yên đánh trả quyết liệt, 3 máy bay F105 bị bắn rơi, một tên giặc lái bị bắt sống.

10 giờ 20 phút[1] nhiều tốp máy bay địch từ các hướng thay nhau bổ nhào, dội bom ồ ạt vào khu vực Hàm Rồng. Chúng sử dụng nhiều loại bom nhỏ và bom bi ném như kiểu “gieo hạt” vào mục tiêu, hy vọng tiêu hao lực lượng của ta. Nhưng các lực lượng phòng không đã có nhiều phương án tác chiến đánh trả quyết liệt, với sự phân công tổ chức rất khoa học. Một mặt tăng cường lực lượng cho các trận địa chốt, mặt khác sử dụng loại pháo 57 ly của Đoàn Tam Đảo chặn đánh vòng ngoài. Trên tất cả các hướng, ngay từ lúc còn xa mục tiêu máy bay địch đã bị đánh chặn với lưới lửa phòng không 3 thứ quân, nhiều tầng, nhiều hướng, ở mọi độ cao, từ xa đến gần đã làm cho đội hình chiến đấu của không quân Mỹ bị rối loạn, không thể công kích mục tiêu như dự định. Hoảng hốt trước sự tấn công mãnh liệt của quân và dân ta, bọn giặc lái Mỹ không còn cách nào hơn là phải vút lên cao. Ngay lúc ấy biên đội không quân Trần Hanh xuất hiện hạ liên tiếp 2 chiếc F105 của giặc Mỹ.

Sau 11 đợt công kích, 40 lần bổ nhào bắn phá, địch vẫn không đạt được mục đích, số máy bay bị bắn rơi ngày càng tăng, đến 11 giờ trưa địch phải dừng trận đánh.

Buổi chiều, lợi dụng ánh sáng mặt trời, địch tập trung từ hướng Tây Nam ồ ạt kéo vào tấn công liên tục, bổ nhào cắt bom nhanh để tránh tổn thất. Nhưng quân và dân Hàm Rồng vẫn tỉnh táo, hiệp đồng chặt chẽ giáng trả lại chúng bằng những loạt đạn chuẩn xác, làm cho lũ giặc trời hoảng hốt bạt vía, phải ném bom bừa bãi rồi tháo chạy thoát thân.

Đến 16 giờ, các đợt tấn công của địch chấm dứt. Lại một ngày nữa quân và dân ta giành thắng lợi to lớn, 30 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Không quân Hoa Kỳ đã trải qua những giờ phút đen tối nhất.

Trong hai ngày chiến đấu vô cùng gian khổ và ác liệt, quân và dân Thị xã và Tỉnh Thanh Hóa đã giành thắng lợi to lớn, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ, tinh thần đoàn kết chống giặc, chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta được phát huy cao độ, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam càng tỏa sáng hơn bao giờ hết. Đã có 47 máy bay Mỹ bị bắn rơi và 2 tên giặc lái bị bắt sông (riêng quân và dân Hàm Rồng, Nam Ngạn trong 2 ngày đã bắn rơi 31 máy bay Mỹ)[2]. Cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững cho những đoàn xe nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Thắng lợi của trận đánh điển hình ngày 3 và 4-4-1965 đã làm nức lòng đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Qua đó thể hiện rõ vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự nỗ lực của các cấp ủy cơ sở và của cán bộ, đảng viên với tinh thần tiền phong gương mẫu, đã đoàn kết vận động được toàn dân ra trận, giành thắng lợi lớn ngay từ trận đầu.

Với thắng lợi oanh liệt trong hai ngày 3 - 4-4-1965, quân dân Thị xã và Hàm Rồng, quân và dân Thanh Hóa được Bộ Tư lệnh Quân khu 3 trao cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đánh lớn thất bại thảm hại, đế quốc Mỹ chuyển sang đánh nhỏ, đánh lén đánh ban đêm. Chúng mở rộng phạm vi khu vực và mục tiêu đánh phá vào tuyến giao thông như các nhà ga, đường chiến lược 1A, 15A, 15B, kho tàng và một số nơi tập trung nhân dân đang sản xuất để gây hoang mang trong nhân dân.

Trước tình hình đó, Chỉ huy Mặt trận Hàm Rồng đã có sự tổng kết chính xác về những thủ đoạn và quy luật hoạt động của giặc Mỹ, bố trí lực lượng hai hướng tấn công chính và kiên quyết tiêu diệt địch. Trung tuần tháng 4-1965, Tỉnh đội Thanh Hóa điều 3 đại đội pháo cao xạ 37 ly và 1 đại đội pháo 12,7 ly đến Hàm Rồng. Ngày 15-4 các đại đội 4, 5, 6 thuộc Tiểu đoàn 3 và đại đội 150 tập kết về vị trí Đại đội 4 đóng ở "Đồi không tên", Bãi sỏi, Đại đội 150 súng 12,7 ly đóng ở đê Nam Ngạn.

Sau nhiều ngày trinh sát phát hiện được căn cứ của Hạm tàu Hải quân, 8 giờ sáng ngày 26-5-1965, địch tập trung đánh phá. Để tự vệ, hai Hạm tàu vừa đánh trả máy bay địch, vừa di chuyển lên phía làng Nam Ngạn tranh thủ sự chi viện của pháo cao xạ Hàm Rồng và dân quân Nam Ngạn. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, máy bay địch hết tốp này đến tốp khác đến ném bom, bắn rốc két, tên lửa vào hai hạm tàu, vào trận địa dân quân, vào làng Nam Ngạn. Một số pháo thủ đã bị thương, chiến sĩ dân quân Nam Ngạn lên tàu bổ sung pháo thủ, trong số đó có 3 anh em: Ngô Thọ Xếp, Ngô Thọ Đặt, Ngô Thọ Sáu nhà Cụ Ngô Thọ Lạn. Đến 10 giờ, trên Hạm tàu gần hết đạn, dân quân Nam Ngạn đã vác đạn bơi trên sông ra tiếp tế. Chị Ngô Thị Tuyển không kịp cắt rời hai hòm đạn dính vào nhau, cứ thế vác cùng một lúc hai hòm đạn pháo cao xạ nặng 98kg lên Hạm tàu. Đến 11 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc, 13 chiến sỹ hy sinh (trong đó có Ngô Thọ Sáu), 6 chiến sĩ bị thương nặng. Nhà sư Đàm Xuân đã mở cửa chùa đón thương binh vào cấp cứu, quy tụ thi hài các liệt sĩ để khâm liệm.

Ban Chỉ huy Quân sự Thị xã điều động 17 pháo thủ dự bị của các xí nghiệp: Phân lân, Nam Phát, Máy xay, Máy điện bổ sung cho Hạm tàu, 14 giờ cùng ngày, máy bay địch lại xuất hiện, trút bom xuống mục tiêu, Hạm tàu vươn ra giữa dòng sông, trườn qua lách lại bắn trả máy bay địch. Trên bờ hỏa lực pháo Hàm Rồng và Trung đội dân quân Nam Ngạn bắn trả máy bay địch quyết liệt. Sau gần hai giờ chiến đấu, máy bay Mỹ đã phải tháo chạy, 5 máy bay bị bắn rơi. Về phía ta, Hạm tàu 136 của Hải quân hư hỏng nặng, tập đoàn Cơ khí Nam Kỳ 40 được lệnh huy động, đã cử ngay lực lượng thợ cơ khí có tay nghề giỏi ra tận nơi sửa chữa.

Trận chiến đấu ngày 26-5-1965 là hình ảnh thu nhỏ cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng tạo của Đảng, đã phát huy sức mạnh 3 thứ quân, của chiến tranh nhân dân trong trận chiến.

Ở sát với trận địa pháo cao xạ Hàm Rồng, nhân dân các thôn Đông Sơn, Đông Tác, xóm Đông Quang đã nêu cao tấm gương phục vụ bộ đội chiến đấu và gánh chịu nhiều hy sinh mất mát. Trong hai đêm 31 - 7 - 1965 và 14-9-1965, máy bay Mỹ đã ném bom vào khu vực dân cư sơ tán của làng Đông Sơn làm chết 51 người, 22 người bị thương. Căm thù giặc Mỹ bạo tàn, nhân dân làng Đông Sơn hăng hái ra trận, giúp đỡ bộ đội đánh thắng giặc Mỹ.

Các nhà máy Xay, Gốm Đông Sơn, Phân Lân, Phốt phát, Lò cao, Máy điện, Đội cầu 19/5, Đồn Công an nhân dân vũ trang, Trường cấp II Tô Vĩnh Diện nằm lọt vào giữa trận địa Hàm Rồng, lúc đó có chiến sự xảy ra thì tất cả các đơn vị trên đã được biên chế thành đội ngũ chỉnh tề, người trực tiếp cầm súng chiến đấu, người tiếp đạn, người cứu, tải thương, người đào bới cứu sập hầm ... Trong sản xuất, công nhân Nhà máy điện vẫn phải tìm mọi cách duy trì dòng điện cho Lò nấu gang, phải đảm bảo giữ cho nhiệt độ ổn định, không để nguyên vật liệu trong lò đóng thành xỉ. Tất cả đều xung phong ra trận, họ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để bộ đội và dân quân tự vệ tiêu diệt địch. Đó là sự hiệp đồng quân dân nhịp nhàng và hiệu quả ở khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn.

Tổng kết năm 1965, đế quốc Mỹ đã đánh vào Thị xã và Hàm Rồng 73 trận, ném 1.047 quả bom, bắn 437 tên lửa rốc két, làm chết 93 người, 119 người bị thương, 159 nhà dân bị sập. Thị xã đã huy động 9 vạn ngày công, đào 32 km giao thông hào, xây dựng 1.200 hầm bằng gạch, 3.200 hố cá nhân, đủ chỗ trú ẩn cho 5 vạn người khi có máy bay đến bắn phá[3].

Năm 1965 ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử Đảng bộ và quân dân Thị xã. Trong chiến đấu đã xuất hiện những gương sáng chói chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó  là tập thể Đại đội 4, Đại đội 17 pháo cao xạ 37 ly, khẩu đội pháo Phạm Gia Huấn chốt trên núi Ngọc, các đơn vị tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng, Lò cao, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ, dân quân Nam Ngạn, dân quân tự vệ Xí nghiệp In Ba Đình ... Đó là Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Ngô Thọ Sáu, Lê Thị Dung, 6 cô gái Lò cao đó là: Trần Thị Mai, Nguyễn Thị Phương Định, Nguyễn Thị Hạnh, Tô Thị Tình, Mai Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Bản đã nêu tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm chiến đấu. Với những thành tích trong năm 1965, quân và dân Thị xã Thanh Hóa vinh dự được nhận Cờ thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng. Cũng năm 1965, Đại đội dân quân Nam Ngạn và chị Ngô Thị Tuyển được Nhà nước tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 25 đơn vị và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công từ hạng Ba đến hạng Nhất.

Trong chiến đấu, cơ sở Đảng và đảng viên[4] (nhất là ở khu vực có chiến sự) là lực lượng tiên phong, nòng cốt, chủ động sáng tạo trong việc tổ chức động viên toàn quân, toàn dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Đi đầu trong gian khổ hy sinh, chủ động sáng tạo và dũng cảm trong tổ chức, chỉ đạo chiến đấu và phục vụ chiến đấu là những nét nổi bật nhất của Đảng bộ Thị xã và các chi bộ nơi có chiến sự, đồng thời đó cũng là những nhân tố có ý nghĩa quyết định góp phần vào thắng lợi chung của Đảng bộ và quân dân Thị xã Thanh Hóa nói riêng, của Đảng bộ và quân dân Thanh Hóa nói chung trong trận thử lửa đầu tiên với đế quốc Mỹ.

Lực lượng thanh niên đã dấy lên phong trào "Ba sẵn sàng" sôi nổi trong chiến đấu, là lực lượng xung kích, dũng cảm góp phần làm nên chiến thắng. Bên cạnh đó Hội Phụ nữ với phong trào "Ba đảm đang" rất sôi động tham gia phục vụ chiến đấu và sản xuất tốt.

Cuộc chiến đấu bền bỉ, gian khổ, rất oanh liệt và thắng lợi vẻ vang chống lại "Không lực Hoa Kỳ" dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thị ủy kéo dài đến ngày 1 - 11 - 1968, khi đế quốc Mỹ thất bại thảm hại buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc và phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari (thủ đô nước Pháp).

Trong thời gian 4 năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ (1965 - 1968), đế quốc Mỹ đã đánh phá Thị xã và khu vực Hàm Rồng 410 trận, trong đó có 118 trận ban đêm, sử dụng 1.857 lần chiếc máy bay đánh phá vào 659 điểm, trong đó 371 điểm là nhà ga, cầu, đường sắt, đường bộ, đường sông, kho tàng, bến bãi; 90 lần đánh vào khu dân cư (trong đó có 13 lần vào  khu dân cư sơ tán) với một khối lượng 11.842 bom phá, 37 bom bi mẹ, 6 quả thủy lôi (mỗi quả nặng 2,4 tấn), bắn 280 tên lửa, 3.883 rốc két và 206 quả đại bác từ biển lên Thị xã và Hàm Rồng.

Khối lượng bom đạn của địch đã tàn phá 3/4 Thị xã, phá hoại 1.791 ngôi nhà ngói, 6.357 nhà lá, 973 nhà xây mái bằng và nhà tầng các loại, 18 bệnh viện, trường học, 16 đền chùa và nhà thờ, 62 xí nghiệp và hợp tác xã, 7.582m đường bộ, 8.337m đường sắt, giết hại 115 con trâu, bò.

Trong 4 năm (1965- 1968), lực lượng dân quân tự vệ đã chiến đấu 144 trận đánh máy bay địch, bảo vệ vùng trời tầm thấp, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ Bến Cốc và tự vệ Xí nghiệp Cưa Mật Sơn độc lập bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Nhân dân Thị xã đóng góp 326.253 ngày công phục vụ trực tiếp chiến đấu, đào đắp công sự, trận địa và các công trình quốc phòng, tiếp tế, vận chuyển đạn dược, thay thế pháo thủ, chăm sóc cứu chữa thương binh và giải quyết mọi hậu quả trong và sau chiến đấu.

Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu và dũng cảm làm nên những chiến công lừng lẫy, Đảng bộ Thị xã đã phát động thi đua giữ vững mạch máu giao thông và vận chuyển hàng hóa ra tiền tuyến.

Thị xã Thanh Hóa là nơi tiếp nhận hàng của các tỉnh phía Bắc và hàng viện trợ của nước ngoài chuyển đến, đồng thời là nơi chuyển giao nhanh chóng hàng hóa vào tỉnh Nghệ An, để từ đó chuyển vào tiền tuyến lớn miền Nam. Với các khẩu  hiệu "Tim có thể ngừng đập, nhưng mạch máu giao thông không tắc", "Sống anh dũng bám đường, chết kiên cường dũng cảm", người trước ngã, người sau xốc tới, dưới mưa bom, bão đạn vẫn chuyển hàng ra phía trước, mạch máu giao thông thường xuyên được bảo đảm. Cuộc chiến đấu của Đảng bộ và quân dân Thị xã Thanh Hóa trên mặt trận giao thông vận tải diễn ra rất quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nhân dân Thị xã, nhất là trong khu vực vận tải thô sơ và thanh niên, đã dũng cảm chiến đấu, cùng với lực lượng chuyên môn đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống (kể cả ba tuyến: Đường sắt, đường bộ và đường thủy).

Cuối tháng 6 - 1965, bom đạn Mỹ đã san bằng khu ga Thanh Hóa, đường vận chuyển hàng hóa bằng tàu hỏa bị gián đoạn. Tỉnh ủy huy động lực lượng xe thồ của cả tỉnh mở tuyến vận chuyển gạo, vũ khí từ Thị xã Thanh Hóa đi Hoàng Mai (Nghệ An), đoàn vận chuyển lấy tên là VC1. 68 chiến sĩ xe thồ của Thị xã Thanh Hóa cùng với phương tiện vận chuyển hàng hóa, là đơn vị tập trung trên chặng đường dài 67km qua các trọng điểm giặc Mỹ đánh phá ác liệt: Bến phà Ghép, cầu Hang, cầu Hổ, cầu Lau, cầu Đồi (Tĩnh Gia). Ngay từ chuyến đầu tiên, Đại đội Thị xã Thanh Hóa đã đạt năng suất cao nhất, bình quân 200 - 250 kg/xe, có xe chở 404 kg và cao nhất đạt 472kg. Các chiến sĩ vận tải không kể gian nguy, đạn bom đánh phá, chỉ trong 10 ngày đầu đã cùng với toàn Đoàn (cả Đoàn lúc này có 200 xe) vận chuyển được 297 tấn gạo, vũ khí.

Sau đợt bị máy bay địch bắn phá, một số chiến sĩ xe thồ bị hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, việc vận chuyển hàng hóa tạm thời phải ngưng lại. Nhưng do yêu cầu cấp bách của tiền tuyến, Thị ủy và Ủy ban Hành chính Thị xã động viên tư tưởng cho các chiến sĩ và tăng cường thêm cán bộ, tổ chức lại đầu mối vận chuyển xe ngựa chuyển hàng từ Thị xã đến Quán Chẹt (Quảng Xương), anh em xe thồ được bố trí nghỉ ngơi ở các làng ven đường, nhận gạo đi tiếp vào Hoàng Mai. Nhờ cách tổ chức tốt mà đoàn Thị xã đã vận chuyển được 404 tấn hàng hóa, chiếm 22% khối lượng hàng hóa được vận chuyển, trong khi lực lượng chỉ bằng 10% của toàn Đoàn trong Tỉnh.

Tuyến đường sắt qua Hàm Rồng và địa phận Thị xã bị bom đạn Mỹ đánh thường xuyên, vì vậy phải chuyển hướng từ cầu Đen qua xóm Nam, ngõ Sẻ của làng Thọ Hạc vòng vào giữa đường Bắc - Nam thành, qua cửa Hữu, nối vào đoạn đường 47 mới đắp để qua xi phông nông giang vào phía Nam. Đường được ngụy trang che chắn khá chu đáo, có nhiều điểm tập kết hàng hóa. Công việc bốc dỡ và vận chuyển được tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành ngay trong  từng đêm.

Ngày 3 - 7 - 1965, Thị xã thành lập Đại đội Thanh niên xung phong 792 gồm 160 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Thuấn làm Đại đội trưởng tăng cường cho ngành Đường sắt để đảm bảo giao thông trên tuyến từ ga Minh Khôi đến ga Khoa Trường. Bờ sông Bến Ngự và khu Lò Chum là nơi tập kết hàng, do các tàu thuyền vận chuyển đến cũng được bảo vệ và bốc xếp vận chuyển an toàn ngay trong từng đêm cho mỗi chuyến hàng.

Lực lượng bốc xếp hàng hóa của Đoàn bốc dỡ I và Đoàn Đông Xuân đã có mặt ở bất cứ địa điểm nào, vào bất cứ thời gian nào để xếp dỡ. Các hợp tác xã xe thồ, xe bò, tiêu biểu là hợp tác xã Quang Vinh nhiều năm liền là lá cờ đầu của ngành Vận tải thô sơ đường bộ của toàn miền Bắc, đã bảo đảm vận chuyển đến một hệ thống kho tàng gần 11 điểm, nằm rải rác khắp Thị xã với sức chứa gần 5.000 tấn hàng.

Về vận tải đường thủy, lực lượng chủ yếu là thuyền gỗ của các hợp tác xã Quyết Tiến, Tiền Phong, Quyết Tâm, Thành Công ... đảm nhận việc chuyển tiếp hàng từ Nam Định, Ninh Bình vào Vinh, hoặc qua nhiều trọng điểm: Hàm Rồng, Cầu Bố, Nấp, Cầu Vạy, cầu Hang, Kênh Than. Hợp tác xã Quyết Tiến nhiều năm liền là đơn vị lá cờ đầu vận tải đường thủy của toàn miền Bắc.

Trong 4 tháng, Phòng Thị chính Thị xã được giao nhiệm vụ duy tu bảo dưỡng đường nội thị. Từ tháng 7 đến 10 - 1967 đã tu bổ được 23km đường với khối lượng đào đắp 39.000m3 đất đá, và san lấp 1.700m3 hố bom.

Trong thời gian giặc Mỹ đánh phá, lực lượng giao thông vận tải của Tỉnh đã phối hợp với nhân dân Thị xã mở thông nhiều tuyến đường quan trọng mới, san đồi bạt núi làm thêm đoạn đường mới từ làng Đông Sơn ra Quốc lộ 1A; mở đoạn đường từ bến phà Đức Giáo ngược lên Cầu Tào; mở thêm tuyến đường mới từ phía Nam cầu Hàm Rồng vòng qua chân các ngọn núi chạy thẳng vào Thị xã, mở tuyến cầu phao Đức Giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu xe và người qua lại được đảm bảo an toàn và thông suốt, không gây ách tắc.

Trong phong trào thi đua trên mặt trận giao thông vận tải của Thị xã trong 4 năm chiến tranh ác liệt đã nổi lên những đơn vị tiêu biểu như: Đội cầu phao Hàm Rồng, hợp tác xã Văn Minh, Đại đội xe thồ 103 Trung đoàn xe thồ Điện Biên Phủ của Tỉnh chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), mà lực lượng chủ yếu là hợp tác xã Tiền Phương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được cấp trên tặng danh hiệu 4 nhất, có 2 chiến sĩ Nguyễn Đức Thọ và Nguyễn Đức Tứ thồ từ 600kg đến 750kg, có 30 người khác thồ từ 400 đến 550kg/chuyến.

Riêng năm 1968, lực lượng vận tải thô sơ Thị xã đã vận chuyển được 170.025 tấn hàng, đảm bảo giao trả khỏi khu vực giặc đánh phá, khối lượng vận chuyển gấp 2 lần năm 1967.

Cùng với việc chiến đấu, bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt ra tiền tuyền, Đảng bộ đã tích cực lãnh đạo nhân dân tiến hành các phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

Sử dụng lực lượng lớn máy bay đánh tập trung ồ ạt bị thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải đánh lẻ, đánh lén vào các mục tiêu giao thông, nhà ga, cầu cống, các công trình thủy lợi, các khu vực tập trung dân cư, kinh tế - quân sự. Trong bối cảnh đó, sản xuất công nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp ở Thị xã về cơ bản vẫn được giữ vững. Các xí nghiệp của Trung ương và của Tỉnh đã được lệnh sơ tán một bộ phận, hoặc toàn bộ xí nghiệp ra khỏi địa bàn Thị xã, về nơi an toàn ở các huyện như: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Yên Định...

Trong các hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp trực thuộc Thị xã quản lý, phần lớn lao động là nam giới trực tiếp sản xuất đã chia nhỏ ra các bộ phận phân tán khắp Thị xã, để nếu bị địch đánh phá thì thiệt hại không đáng kể và có lực lượng tại chỗ phục vụ bộ đội chiến đấu khi cần phải huy động. Còn lao động là phụ nữ và thiếu niên trong các hợp tác xã như may mặc, dệt vải, dệt chiếu .... đều sơ tán ra các xã thuộc huyện Đông Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa ven Thị xã để tiếp tục sản xuất và tiện cho việc tiếp tế, liên lạc, chỉ huy.

Với tinh thần tự lực cánh sinh, vượt lên hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh gây ra, lại được sự lãnh đạo động viên kịp thời của các cấp ủy Đảng, sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể Thị xã, nên các ngành, các cấp, hợp tác xã thường xuyên quan tâm phát động phong trào thi đua yêu nước mà đỉnh cao là phấn đấu giành danh hiệu lá cờ đầu.

Trên các mặt trận kinh tế, quốc phòng-an ninh, giao thông vận tải,… đã tạo được bầu không khí thi đua sôi nổi, rầm rộ, rộng khắp, cuốn hút ngành ngành thi đua, người người thi đua, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo để vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ ác liệt hy sinh, quyết tâm phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước, góp phần bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện đầy đủ sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Phong trào thi đua yêu nước với nội dung "Ba điểm cao" (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều) liên tục được các xí nghiệp, hợp tác xã phát động từng tháng; từng quý, từng năm, tạo được khí thế sôi nổi, bám xưởng, bám máy sản xuất không kể ngày đêm.

Trong phong trào thi đua ấy, đã xuất hiện những đơn vị tiêu biểu về sản xuất giỏi và phục vụ chiến đấu tốt.

Tập đoàn Nam Kỳ 40 đã không kể ngày đêm, vẫn khẩn trương lên đường có lúc xa cách hàng 2 - 3 chục km để sửa chữa vũ khí, khí tài góp phần cho các đơn vị bộ đội tiếp tục chiến đấu.

Hợp tác xã cơ khí Thành Công, trong điều kiện phân tán thành nhiều bộ phận nhỏ, lực lượng giảm 27%, nhưng vẫn ổn định tổ chức, phát huy nhiều sáng kiến, sản xuất ra nhiều nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, như: cào cỏ, bừa cải tiến, cuốc xẻng v.v... Nhiều lần bị địch đánh phá vào cơ sở sản xuất, xã viên hợp tác xã đã xông vào cứu chữa dập tắt cháy và nhanh chóng ổn định tình hình để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, giữ vững danh hiệu Lá cờ đầu ngành sản xuất thủ công nghiệp toàn miền Bắc. Năm 1961, Hợp tác xã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và khen ngợi.

Thi đua với Thành Công, Hợp tác xã thủy tinh Thống Nhất sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng của nhân dân. Năm 1967, Hợp tác xã đã trở thành đơn vị tiêu biểu xuất sắc nhất và được công nhận là đơn vị lá cờ đầu toàn ngành thủ công nghiệp miền Bắc. Tại lễ đón nhận danh hiệu lá cờ đầu, Hợp tác xã vinh dự được Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi lẵng hoa và thư khen.

Đó là hợp tác xã thuyền vận tải đường sông Quyết Tiến; hợp tác xã xe bò vận tải Quang Vinh, nhờ có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý, khắc phục khó khăn, đã vươn lên đạt danh hiệu lá cờ đầu toàn ngành vận tải thô sơ miền Bắc, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là những hợp tác xã điển hình, tiêu biểu nhất, là những con chim đầu đàn của ngành thủ công nghiệp Thị xã, có sức lan tỏa, cuốn hút mạnh mẽ trong toàn ngành trên mặt trận sản xuất, làm kinh tế và trên mặt trận giao thông vận tải vô cùng ác liệt, hiểm nguy thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Bên cạnh đó, nhiều sáng kiến khắc phục khó khăn, nâng cao năng suất lao động đã nảy sinh trong thời chiến như hợp tác xã Hợp Tiến, đã dùng bàn ta rô để tạo răng ê cu đầu trục, đưa năng suất từ 30 lên 120 cái/công; hợp tác xã Hồng Hải dùng ngô làm men mốc thay gạo; hợp tác xã Dệt chiếu Minh Khai mới thành lập, gồm những chị em tiểu thương chuyển sang sản xuất đã khắc phục khó khăn, tổ chức việc học nghề để sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao, năng suất bình quân tăng từ 30 đến 50%, kịp thời giao hàng phục vụ xuất khẩu.

Năm 1965, ngành thủ công nghiệp Thị xã đạt tổng giá trị sản lượng 11 triệu đồng, bằng 106,9% kế hoạch Nhà nước giao và bằng 131,6% so với năm 1964, năm 1966 đạt 13,2 triệu đồng, giá trị tổng sản lượng bằng 101,4% kế hoạch Nhà nước giao; năm 1967 chỉ đạt 12,8 triệu đồng, năm 1968 đạt 12,2 triệu đồng [5].

Hằng năm, có trên 30 cơ sở sản xuất trong tổng số 38 đơn vị đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Đời sống xã viên được đảm bảo, các gia đình xã viên đều gắn bó với hợp tác xã.

Các xí nghiệp quốc doanh trực thuộc Thị xã giảm dần từ 15 đơn vị năm 1965 xuống 10 đơn vị năm 1968. Hàng năm có từ 8 đến 10 đơn vị hoàn thành kế hoạch, song chỉ có 5 đơn vị hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước và cả bốn năm liền trong chiến tranh là Xí nghiệp in Ba Đình, Nước mắm Hương Hải, Nhiếp ảnh Ánh Sáng và Nhà máy nước.

Về sản xuất nông nghiệp, xã viên các hợp tác xã nông nghiệp bám chắc đồng ruộng vừa sản xuất, vừa đánh giặc. Với diện tích canh tác của Thị xã lên trên 400ha, đồng ruộng các hợp tác xã Đông Sơn, Đông Quang, Phú Thọ, Nam Ngạn lại nằm vào vùng trọng điểm đánh phá của địch. Năm 1965, giặc Mỹ bắt đầu đánh phá ác liệt, nhưng bà con xã viên đã tranh thủ mọi điều kiện để gặt chiêm nhanh gọn, tranh thủ làm mùa kịp thời vụ. Về diện tích gieo cấy, năm 1965 gieo cấy được 1.224 mẫu 7 sào, năm 1966 nâng lên 1.314 mẫu 6 sào, kể cả lúa và hoa màu; trâu bò năm 1965 mới có 363 con, năm 1966 tăng lên 441 con; đàn lợn gia đình và tập thể đều tăng hơn trước.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng và Ban Chủ nhiệm các hợp tác xã, bà con xã viên đã hưởng ứng phong trào thi đua "3 mục tiêu" "5 tấn thóc/1ha canh tác, 2 đầu lợn/1ha gieo trồng, 1 lao động/1ha". Điểm nổi bật nhất là phong trào làm thủy lợi. Vì đây là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp. Hàng năm 8 hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đào đắp trên 20 ngàn m3 đất thủy lợi, bình quân mỗi lao động đào đắp từ 15 đến 17m3 trong năm. Lực lượng thanh niên "ba sẵn sàng" trong các hợp tác xã nông nghiệp cũng là lực lượng xung kích trên những cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ. Các hợp tác xã đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh, như đưa giống mới, cấy dăng dây thẳng hàng, dùng phân bón hóa học, làm bèo hoa dâu, cào cỏ cải tiến để làm cỏ và cải tạo đồng ruộng... Đối chiếu với 3 mục tiêu, trong quá trình phấn đấu thực hiện, các hợp tác xã nông nghiệp Thị xã mới chỉ đạt mục tiêu thứ 2, mục tiêu thứ nhất chỉ có hợp tác xã Phú Thọ đạt 5 tấn thóc/1ha, còn mục tiêu thứ 3 (1 lao động/1ha) hầu hết chưa đạt.

Các hợp tác xã mới đảm bảo được lương thực theo mức tự cung, tự cấp. Mức ăn bình quân năm 1965 của xã viên là 16,8kg/tháng, đến năm 1968 chỉ còn 15 kg, mức đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước năm 1965 là 203 tấn, năm 1966 xuống còn 174 tấn, năm 1967 chỉ còn 107 tấn, hợp tác xã Đông Sơn có mức bình quân lương thực thấp nhất là 11kg/người/tháng, nhưng lại là nơi chăm lo tốt nhất các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có con em đi chiến đấu ở chiến trường B, C và đều phục vụ tốt bộ đội pháo cao xạ Hàm Rồng tạo điều kiện để bộ đội chiến đấu giành nhiều thắng lợi. Năm 1965 Đảng bộ đã vận động tổ chức cho 38 hộ, gần 145 khẩu đi xây dựng phát triển kinh tế - văn hóa ở huyện Như Xuân.

Sự nghiệp văn hóa giáo dục được quan tâm. Năm 1965, mặc dù địch đánh phá ác liệt, Tỉnh ủy Thanh Hóa đồng ý cho Trường cấp 3 Lam Sơn vẫn duy trì việc dạy và học. Nhà trường đã khẩn trương sơ tán về xã Đông Văn, huyện Đông Sơn; đào đắp, bố trí đủ hầm hào phòng tránh, trú ẩn cho thầy và trò, tổ chức lại các lớp học cho phù hợp, nên việc dạy và học đạt kết quả tốt.

Trong hoàn cảnh có chiến tranh, hệ thống giáo dục, số lớp, số học sinh các cấp đều tăng. Năm học 1964- 1965 cấp I có 98 lớp, với 5,133 học sinh; cấp II có 43 lớp, với 2.212 học sinh, mẫu giáo có 15 lớp, với 502 học sinh vã vỡ lòng có 45 lớp, với 1.5121 học sinh. Cộng cả 3 khối phổ thông, vỡ lòng và mẫu giáo, tổng số học sinh trong niên học 1964 - 1965 và 9.102 em. Chất lượng dạy và học có tiến bộ. Năm 1965, em Nguyễn Anh Dũng, học sinh lớp 10 Trường cấp 3 Lam Sơn đạt giải học sinh giỏi toán toàn miền Bắc. Năm 1968, học sinh lớp 10 Lê Phước Dũng đạt giải học sinh giỏi môn Văn của Tỉnh.

Trong lúc Đảng bộ và quân dân Thị xã đang sôi nổi thi đua đẩy mạnh các phong trào chiến đấu, sản xuất, giao thông vận tải, với ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ VI được tiến hành từ ngày 5 đến ngày 8-9-1967 tại xã Đông Tiến (Đông Sơn)[6]. Về dự Đại hội có 117 đại biểu thay mặt cho 914 đảng viên của 61 Đảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc.

Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ V, Đại hội khẳng định: Trong 2 năm trực tiếp chống Mỹ, cứu nước, nhận thức rõ vị trí trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, đầu mối của trục giao thông thủy bộ và vị trí quân sự trọng yếu, Thị xã đã có những bước chuyển biến lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.

Về sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, đã có 72,5% xí nghiệp quốc doanh địa phương của Thị xã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Các xí nghiệp Mộc Thanh Hóa, Hương Hải, in Ba Đình là những đơn vị khá nhất của các ngành kiến trúc, thủy sản, văn hóa. Với 3.000 xã viên của 38 hợp tác xã thủ công nghiệp, sản xuất một khối lượng lớn sản phẩm thủ công nghiệp, cung cấp một phần tư liệu sản xuất nông nghiệp, đáp ứng một phần yêu cầu hàng tiêu dùng cho nhân dân trong tỉnh và góp một phần cho hàng hóa xuất khẩu.

Trong chiến đấu, Đảng bộ và quân dân Thị xã đã nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Huy động được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở địa phương, hiệp đồng chiến đấu và phục vụ chiến đấu chặt chẽ với các quân binh chủng có mặt trên địa bàn, sẵn sàng chủ động đánh thắng địch giòn giã ngay từ những trận đầu, tiêu biểu là trận ngày đầu mùng 3 và 4-4-1965, bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000 trên miền Bắc, bắt sống những tên giặc lái sừng sỏ, như trung tá Đen Tơn... Tiêu biểu là Tiểu khu Nam Ngạn, Đông Sơn, Nhà máy điện Thanh Hóa... đã lập những chiến công oanh liệt. Đại đội dân quân Nam Ngạn được Quốc hội tuyên dương đơn vị Anh hùng. Ngô Thị Tuyển, người con gái Nam Ngạn được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đi đôi với chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Đảng bộ kiên quyết tập trung lực lượng tổ chức tốt việc sơ tán, phòng tránh, trong chiến tranh trật tự, trị an vẫn được đảm bảo tốt. Thấm nhuần tinh thần bảo đảm giao thông vận tải trong thời chiến và hiểu rõ vị trí đầu mối của trục giao thông thủy bộ, lực lượng bốc xếp đã vượt qua bom đạn địch hoàn thành vượt mức kế hoạch xếp dỡ hàng hóa; sửa chữa cầu đường, đã lấp hàng trăm hố bom địch để lại thông đường xe đi, lực lượng vận tải vượt qua thiên tai địch họa.

Đảng bộ đã tiến hành giáo dục, tổ chức hướng dẫn quần chúng đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng và tăng cường chỉ đạo phát triển ngành nghề, việc ăn ở, học hành cho những đối tượng phải di chuyển, sơ tán ở vùng nông thôn các huyện trong tỉnh và lực lượng ở lại Thị xã vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Động viên thi đua yêu nước, khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong cán bộ và nhân dân. Nhờ vậy, mặc dù chiến tranh ác liệt, địch đánh phá ngày đêm, tàn phá Thị xã, đánh phá dữ dội các vùng lân cận, nơi đồng bào sơ tán, nhưng nhìn chung đời sống nhân dân vẫn được duy trì, không có gì xáo trộn lớn.

Thị ủy, các cấp ủy cơ sở trực tiếp làm tốt công tác tư tưởng, giáo dục đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tuyệt đại bộ phận đảng viên nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu, phát huy được vai trò lãnh đạo. Chất lượng lãnh đạo toàn diện của các Đảng bộ cơ sở được nâng cao hơn trước. Nếu như đầu năm 1965 chỉ mới có 26,75% chi bộ, 51,42% đảng viên đạt yêu cầu "4 tốt" thì đầu năm 1967 tỷ lệ ấy đã tăng lên 55,22% và 79,82%. Trong hơn 2 năm, Đảng bộ đã kết nạp 439 đảng viên mới, nâng tỷ lệ đảng viên nữ từ 8,8% lên 19%, tỷ lệ đảng viên trẻ từ 14% lên 29% so với năm 1964.

Toàn Đảng bộ đã quan tâm chăm lo tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng lực lượng Đoàn Thanh niên, bồi dưỡng được nhiều thanh niên ưu tú trở thành đảng viên. Đảng bộ cũng đã chú trọng giáo dục, bồi dưỡng lực lượng phụ nữ qua phong trào "ba đảm đang"; lực lượng công nhân, thợ thủ công qua phong trào "ba điểm cao" kết hợp với việc xây dựng Chi bộ Hội Phụ nữ tiên tiến, Công đoàn "4 tốt".

Các tổ chức phụ lão, Hội mẹ chiến sĩ, trong Mặt trận cũng được xây dựng, củng cố và động viên thực hiện tốt phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước và thực hiện tốt các chính sách mặt trận.

Từ những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, Đại hội rút ra 3 bài học kinh nghiệm:

Một là, phát huy cao độ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tăng cường giáo dục, cổ vũ và tổ chức lực lượng trên mọi mặt trận, tinh thần sẵn sàng hy sinh tính mạng, tài sản để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai là, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào, Đảng bộ phải chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cấp trên với tinh thần chủ động, sáng tạo, dựa vào sức mình là chính. Đảng bộ phải đặt đúng vị trí hàng đầu của công tác tư tưởng, kiên quyết giáo dục đảng viên, quần chúng tăng cường sinh hoạt dân chủ, đồng thời biết tập trung lực lượng thực hiện dứt điểm một số việc nhất định trong từng thời gian nhất định.

Ba là, các ngành, các cấp phát huy được vai trò, vị trí, nhiệm vụ, chức năng của mình, hướng vào công tác trọng tâm, thông qua đó mà hoàn thành nhiệm vụ với năng suất, chất lượng ngày càng cao.

Căn cứ tình hình, đặc điểm của Thị xã và quán triệt các nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh ủy, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới là: "Phát huy kinh nghiệm tốt qua 3 năm chống Mỹ, cứu nước, trong gian khổ khói lửa, đặt cao hơn nữa công tác chính trị tư tưởng và tổ chức. Đặc biệt là tập trung xây dựng cơ sở Đảng vững mạnh, tích cực hơn nữa việc cải tiến tác phong lãnh đạo và chỉ đạo, công tác, thực sự mở rộng dân chủ, đi sâu phát động quần chúng, giáo dục cán bộ, quần chúng tinh thần quyết tâm cao, tinh thần tiến công cách mạng, không ngừng ra sức vượt mọi khó khăn hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác khác. Đặc biệt kiên quyết tập trung toàn lực đẩy mạnh sản xuất phát triển đưa phong trào tiến lên".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa VI gồm 19 đồng chí, đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư; đồng chí Trần Trọng Tài làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã).

Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ VI  đã gửi Thư tới Ủy ban Dân tộc giải phóng và toàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Thị xã Hội An, thể hiện tình cảm Bắc-Nam ruột thịt, thể hiện quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa “quyết đem hết trí tuệ, sức lực hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc giao”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ VI, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thi đua lao động sản xuất, học tập và công tác, quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước.

II. KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN THỊ XÃ SAU CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI  CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969 - 1971)

Năm 1968, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ hoàn toàn sụp đổ. Nhưng với bản chất phản động, hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến tranh ở miền Nam bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đứng trước sự thay đổi về chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 1-1-1969, Bộ Chính trị (khóa III) ra nghị quyết "về tình hình nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân". Nội dung nghị quyết đã vạch trần âm mưu của địch và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho quân và dân cả nước đánh thắng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của giặc Mỹ.

Sau khi địch tạm ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể của Thị xã chuyển về Thị xã. Đảng bộ và nhân dân Thị xã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ VII diễn ra từ ngày 17 đến 23-4-1969, tại Hội trường Thị  ủy Thanh Hóa. Dự Đại hội có 116 đại biểu chính thức và 11 đại biểu dự khuyết. Đánh giá những thành tựu đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI, Đại hội khẳng định: "Quá trình thực hiện nhiệm vụ của Đảng cấp trên giao cho và với tinh thần trách nhiệm trước nhân dân Thị xã, Đảng bộ đã phát huy năng lực chủ quan của mình, chủ động kết hợp chặt chẽ với các ngành liên quan, ra sức động viên cán bộ đảng viên và nhân dân Thị xã, nêu cao tinh thần phấn đấu cách mạng, tự lực cánh sinh, khắc phục mọi khó khăn, vì vậy trong những năm qua đã hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Bên cạnh thành tích đạt được, Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm rút ra những mặt còn tồn tại của quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng. Đó là trình độ lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ và các ngành còn nhiều mặt yếu kém so với yêu cầu cách mạng, nhất là về quản lý kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật, biểu hiện tập trung ở khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn yếu, quản lý sử dụng cán bộ chưa tốt.

Trên cơ sở mặt mạnh, mặt yếu và căn cứ vào nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn trước mắt, Đại hội đã ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ chung cho nhiệm kỳ tới là: "Lấy xây dựng Đảng làm gốc, lấy tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và thi đua yêu nước làm động lực, thúc đẩy toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hướng về miền Nam ruột thịt, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn, giữ vững nếp sống quân sự hóa, bảo vệ Thị xã an toàn trong mọi tình huống, phát huy cao độ ý thức tự lực cánh sinh và tinh thần công tác tương trợ, nỗ lực phấn đấu hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước; tăng thêm vốn tích lũy đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật, ưu tiên số 1 là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, góp phần cao nhất vào sự nghiệp đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao một bước đời sống nhân dân".

Đại hội ra Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, coi trọng "củng cố và nâng cao chất lượng cơ sở Đảng. Ba mặt công tác: Tư tưởng, tổ chức và kiểm tra phải được tiến hành đồng đều, cân đối, công tác tư tưởng phải đi trước một bước nhưng phải lấy công tác tổ chức làm gốc. Công tác kiểm tra phải kịp thời nghiêm chỉnh".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VII gồm 21 ủy viên chính thức và 2 Ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu lại làm Bí thư; đồng chí Hoàng Tửu làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thị xã).

Bị thất bại nặng nề ở hai miền Nam – Bắc, ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cuộc chiến tranh nhân dân của quân và dân miền Bắcchống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ kết thúc thắng lợi. Trước tình hình đó, ngày 3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Chúng ta đã đánh thắng… Song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu… hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Ngày 15-2-1969, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết về thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết nêu rõ: "Tích cực bảo đảm đáp ứng tốt mọi nhu cầu nhân lực cho sản xuất và chiến đấu trong giai đoạn quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành thắng lợi quyết định, chú trọng đảm bảo dành một phần lực lượng thích đáng cho giao thông vận tải, kiến thiết cơ bản để tranh thủ mọi thời cơ sửa chữa và xây dựng nhanh chóng cầu đường trong tỉnh, sửa chữa và sản xuất kịp thời các phương tiện vận tải phục vụ đắc lực nhiệm vụ chi viện tiền tuyến".

Quán triệt và vận dụng tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng và của Tỉnh ủy vào điều kiện cụ thể ở Thị xã Thanh Hóa, ngày 21-1-1969, Thị ủy đã phát động đợt thi đua "làm theo lời Bác" (từ ngày 3-2 đến ngày 19-5-1969). Phong trào thi đua này đã tạo nên một không khí sôi nổi trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Thị xã. Đã tập trung sức làm vệ sinh dọn dẹp làm sạch đường phố, thu dọn sân, vườn, tạo nên phong cảnh quang đãng sau chiến thắng chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nhằm bảo vệ sức khỏe của nhân dân và đẩy mạnh sản xuất.

Trên đà thắng lợi của đợt thi đua đó, Thị ủy tiếp tục phát động đợt thi đua "100 ngày cùng Hội An tiến công thắng Mỹ", bắt đầu từ ngày 19-5 đến  ngày 2-9-1969, nhằm thúc đẩy khí thế hăng say lao động, khẩn trương trở lại nề nếp làm việc thời bình, đồng thời không ngừng đề cao cảnh giác, đề phòng địch dùng không quân đánh phá trở lại.

Giữa lúc Đảng bộ, quân dân Thị xã Thanh Hóa cùng cả nước đang đẩy mạnh thi đua thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược thì được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là tổn thất vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trước khi qua đời, Bác Hồ đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thị xã cùng nhân dân Tỉnh Thanh Hóa và cả nước để tang Người. Già trẻ, gái trai thầm lặng xếp thành từng đoàn đến trước bàn thờ Người dâng hương hoa kính viếng và vĩnh biệt Người.

Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 tại Thủ đô Hà Nội, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã biến đau thương thành hành động cách mạng, kiên trì đẩy mạnh kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng và khôi phục miền Bắc, nguyện ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Trước tình hình mới, Thị ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 1969, nêu rõ phải "Phát huy tinh thần cách mạng tiến công, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, quyết tâm giành thắng lợi toàn diện". Nghị quyết nhấn mạnh 3 việc phải tập trung giải quyết là: "Đẩy mạnh sản xuất, chi viện miền Nam, tổ chức đời sống". Nghị quyết cũng chỉ rõ khó khăn là thiếu nguyên liệu, nhất là than củi cho sản xuất thủ công nghiệp và trình độ khoa học kỹ thuật non yếu, chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sản xuất, cần phải có kế hoạch khắc phục kịp thời.

Ngày 1-1-1971, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã đã đánh giá: sau những năm Thị xã phấn đấu khôi phục và phát triển kinh tế, "Tính chất trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh đã hình thành trở lại", tạo ra những điều kiện, tiền đề để "công cuộc xây dựng kinh tế trong những năm tới sẽ được đẩy mạnh trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng cơ bản".

Trong không khí toàn Đảng, toàn quân ta đang sôi nổi thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 19, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã  thi đua lao động sản xuất trong phong trào “Mùa Xuân thắng Mỹ”, quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 14 - 2-1971, Đảng bộ Thị xã đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VIII.

Đại hội đã tổng kết tình hình hoạt động của Đảng bộ trong 2 năm 1969-1970; đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 1971 và những năm tiếp theo; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới gồm 18 đồng chí, Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí, đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư, đồng chí Hoàng Tu được bầu làm Phó Bí thư.

Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VII và các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, Đại hội nêu rõ: “Đảng bộ và nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên các mặt”. Đó là:

- Về chiến đấu: đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, chấp hành tốt chính sách hậu phương quân đội, trật tự trị an được giữ vững, Thị xã được bảo vệ an toàn.

- Về sản xuất kinh tế: Quán triệt tinh thần tranh thủ hòa bình đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế. Trong hai năm đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực đẩy mạnh sản xuất, nhờ vậy mà Thị xã đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước trong công nghiệp, thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác, nhất là trong thủ công nghiệp. Mặt hàng tiêu dùng, mặt hàng mới được phát triển phù hợp với chủ trương của Trung ương, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của địa phương. Sản xuất nông nghiệp có chuyển biến khá rõ nét, năng suất lúa, chăn nuôi lợn, trồng rau đều tăng. Việc thực hiện nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước hoàn thành vượt mức. Phong trào tiến quân vào khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp có tiến bộ.

Các ngành kinh tế và các mặt hoạt động khác đều phát triển và có tiến bộ rõ về quan điểm chính trị, ý thức phục vụ quần chúng.

Nhiều phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội được liên tục phát động và đạt kết quả thiết thực, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân hăng say lao động sản xuất…

- Về đời sống: đã có nhiều cố gắng trong chăm lo đời sống nhân dân, nhờ vậy khắc phục dần những khó khăn, ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân.

Đại hội đã dành nhiều thời gian kiểm điểm, đánh giá công tác xây dựng Đảng. Đại hội nhấn mạnh đây là công tác trọng tâm, then chốt và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với Thị xã - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nơi tập trung đầu mối giao thông quan trọng.

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế, khó khăn, quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, Đại hội đã tập trung bàn kỹ và ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ của Thị xã trong năm 1971 và những năm tiếp theo, với những nội dung chủ yếu:

- Tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất; giải quyết tốt các mối quan hệ giữa chiến đấu, phòng tránh, với sản xuất; giữa kinh tế với quốc phòng.

Tập trung các biện pháp phát triển sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp với tinh thần tập trung sản xuất hàng tiêu dùng một cách phong phú, phát triển sản xuất lương thực-thực phẩm, nhằm đạt hiệu quả cuối cùng là: năng suất lao động tăng; sản phẩm xã hội nhiều; chất lượng tốt, bền đẹp, giá thành hạ.

- Coi công tác xây dựng Đảng là then chốt, khâu quyết định thắng lợi của Đảng bộ[7].



[1] Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, 1994, tr.79.

[2] Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi: Thành phố Thanh Hóa, tập 2, NXB Thanh Hóa 1994.

[3] Thành phố Thanh Hóa (1947-1994), tập II, NXB Thanh Hóa 1994 - tr133.

[4]  Tháng 4-1964, toàn Đảng bộ Thị xã có 82 cơ sở Đảng trực thuộc gồm 1.600 đảng viên.

 

[5] Thành phố Thanh Hóa, tập II, sdd, trang 142.

[6] Đông Tiến, Đông Sơn là nơi sơ tán của cơ quan Thị ủy.

[7] Văn kiện Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa, ngày 14-2-1971.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/baitho_khan%20theu_NKTT.JPG

 Tấm khăn thêu bài thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ, do 6 nữ tù chính trị thêu trong nhà lao Hội An năm 1969, được bí mật chuyển ra ngoài, năm 1971 được mang ra tặng Đại hội Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ VIII

 

 

Tập trung sức đẩy mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đó là nhiệm vụ hàng đầu đặt ra. Trở về Thị xã trong cảnh nhà xưởng bị hư hỏng do chiến tranh, máy móc, vật tư, thiết bị năng lực thiếu, xã viên các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, tiết kiệm chi dùng, tập trung vốn đầu tư cho sản xuất với mức ngày càng tăng (năm 1970 giá trị đầu tư đạt 300.000 đ, năm 1971 lên 605.303 đ); phục hồi sản xuất nhiều mặt hàng cũ, năm 1969 - 1970 cung cấp cho thị trường 16 mặt hàng mới; phong trào thi đua luyện tay nghề, thi thợ giỏi, thao diễn kỹ thuật, đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho thợ trẻ... Tất cả sự cố gắng đó đã góp phần khắc phục một bước những khó khăn sau những năm chống chiến tranh phá hoại...

Tổng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp Thị xã năm 1971 bằng 2 lần năm 1964, chiếm 25% giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp của Tỉnh.

Nhằm quy hoạch, tổ chức lại quy mô Thị xã, đáp ứng yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế, ngày 28-8-1971 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 226/TTg sát nhập các xã Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải của huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng của huyện Quảng Xương vào Thị xã Thanh Hóa. Vành đai nông nghiệp bao quanh Thị xã được mở rộng, nâng số diện tích canh tác lên 1.200 ha, số hợp tác xã nông nghiệp lên 17 đơn vị, trong đó có nhiều hợp tác xã nông nghiệp trồng rau tốt như: Vệ Yên, Tạnh Xá; chăn nuôi lợn tốt như Quảng Xá, Kiều Đại; làm nghề phụ chế biến bánh và đã từng đạt danh hiệu 5 tấn thóc/1ha của huyện Đông Sơn như xã Đông Hương. Việc mở rộng địa giới đã tạo cho Thị xã có thêm tiềm lực mới giải quyết cung cấp thực phẩm tại chỗ, tăng thêm khả năng và thế mạnh mới về kinh tế nông nghiệp.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Thị xã đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động thi đua lao động sản xuất (1-1970), tăng cường chế độ làm chủ ở nông thôn (3-1970) đã tạo ra một động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Việc áp dụng kinh nghiệm thâm canh cây trồng, phong trào chị em phụ nữ đảm nhận xây dựng cánh đồng Bà Triệu, đã đẩy nhanh tiến độ phấn đấu đạt mục tiêu năng suất 5 tấn/ha (năm 1969: 4 tấn, năm 1970: 4,4 tấn, năm 1971: 5 tấn). Nông nghiệp Thị xã trở thành một trong 6 đơn vị của Tỉnh đạt năng suất lúa 5 tấn/ha. Năm 1971 các hợp tác xã Nam ngạn đạt 5,666 tấn/ha, Công Nông đạt 5,608 tấn/ha, Minh Khai đạt 5,326 tấn/ha dẫn đầu các hợp tác xã về mục tiêu thứ nhất. Đàn lợn của Thị xã trong năm này đạt 9,927 con bình quân 4,3 con/ha.

Về văn hóa - giáo dục, mặc dù chiến tranh phá hoại lần thứ nhất diễn ra ác liệt nhưng y tế, văn hóa, giáo dục vẫn phát triển. Bệnh viện Thị xã hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và phục vụ chiến đấu tốt; các trạm y tế cơ sở hoạt động đều, cán bộ y tế được đào tạo ngày càng nhiều. Phong trào sửa chữa nhà tiêu, giếng nước được củng cố. Trong chiến tranh, Thị xã không để xảy ra dịch bệnh.

Ngành chiếu bóng xây dựng một hầm chiếu, hoạt động thường xuyên. Phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" phát triển sôi nổi, khích lệ nhân dân hăng say sản xuất và chiến đấu.

Về giáo dục, đi sơ tán bất cứ ở đâu, nhân dân đều góp công, góp sức đắp lũy bọc các lớp học, đào giao thông hào cho các em đến lớp. Phong trào thi đua "hai tốt" được duy trì và phát triển. Sau khi kết thúc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, các cơ sở giáo dục trở về Thị xã, ngành Giáo dục phát triển khá nhanh ở cả 3 cấp. Năm học 1969-1970 có 78 lớp với 4.590 học sinh, năm học 1970-1971 số lớp tăng lên 191, với 8.834 học sinh. Kể từ khi 5 xã của huyện Đông Sơn và huyện Quảng Xương nhập về Thị xã, ngày 28-8-1971, số học sinh tăng lên 13.498 em với 327 lớp.

Về xây dựng hậu phương và chi viện cho tiền tuyến, với quyết tâm "thời kỳ tổng tiến công đã đến, Đảng bộ và nhân dân Thị xã quyết xây dựng hậu phương vững mạnh, chi viện cao nhất sức người và của cho tiền tuyến", Thị ủy đã mở đợt công tác giáo dục tư tưởng cho toàn Đảng bộ. Nhiều cơ sở đã mở hội tòng quân, đăng ký đi nghĩa vụ quân sự, giải quyết tốt chính sách hậu phương và phát động phong trào: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Năm 1968 đạt 97% chỉ tiêu giao quân, năm 1970 đạt 127% chỉ tiêu, năm 1971 qua 3 đợt tuyển quân vượt mức 9%. Ba đợt tuyển quân của năm 1972 đạt tổng số 465 người/450 người, bằng 103,3% chỉ tiêu giao.

Việc chấp hành chính sách nghĩa vụ giao nộp lương thực, thực phẩm, nộp thuế và thu mua hàng hóa có chuyển biến tốt: năm 1970 đạt 140,5 tấn; năm 1971 đạt 190 tấn; năm 1972 tăng lên 431 tấn[1].

Về tổ chức đời sống, từ thời chiến chuyển sang thời bình nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân tăng lên. Cấp ủy, chính quyền Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo các cửa hàng lưu thông phân phối lo cung cấp tranh, tre, nứa, luồng để nhân dân sửa chữa nhà cửa, bảo đảm nơi ăn ở.

Thực hiện chế độ cung cấp thông qua tem phiếu, các cửa hàng lương thực, thực phẩm, bách hóa, vải sợi của quốc doanh lúc nào cũng tấp nập người vào mua hàng, theo tiêu chuẩn định lượng. Thông cảm với khó khăn của Nhà nước, mọi người đều vui vẻ xếp hàng chờ đợi đến lượt mình mua. Do nhu cầu đời sống tăng lên, quốc doanh Nhà nước không đủ sức đáp ứng, một bộ phận người buôn bán nhỏ từ hợp tác xã trở ra buôn bán, đến đầu năm 1970 đã tăng lên 1.226 người (trong hoàn cảnh lúc bấy giờ thì số người này coi như là làm ăn bất chính, phá rối thị trường).

Trước những đòi hỏi bức thiết của công cuộc khôi phục kinh tế - văn hóa - xã hội và tổ chức đời sống nhân dân, các ngành xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng đã có nhiều đóng góp tích cực và thiết thực, song cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu xã hội. Bởi vậy, vai trò tham gia của các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực này là rất quan trọng. Cuối năm 1971, Ủy ban hành chính Thị xã kết hợp với Mặt trận Tổ quốc Thị xã và các đoàn thể tổ chức Đại hội liên hoan, biểu dương các đơn vị, gia đình và cá nhân tiên tiến có nhiều thành tích đóng góp trong việc khôi phục kinh tế - văn hóa, xã hội của Thị xã sau chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất.

Đại hội đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao cảnh giác đề phòng mọi âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tấn công trở lại miền Bắc.

III. LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1971 - 1972)

Tuy đã tuyên bố tạm ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam và tiến hành đàm phán ở Pa-ri (Thủ đô nước Pháp) nhưng đế quốc Mỹ vẫn lén lút tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc, cùng với đẩy mạnh "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ hai của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt trên toàn miền Bắc. Đối với tỉnh Thanh Hóa, chiến tranh phá hoại lần thứ hai được đánh dấu bằng sự kiện ngày 26-12-1971, khi đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom, bắn phá dữ dội vào khu vực Hàm Rồng.

9 giờ 30 phút sáng ngày chủ nhật 26-12-1971, một tốp máy bay 4 chiếc F4B lẻn vào đánh phá Hàm Rồng. Mặc dù đã 3 năm 9 tháng im tiếng súng tại khu vực này, đội pháo cao xạ 228 của ta vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhả đạn vào đầu thù. Trong trận này ta bắn cháy 2 máy bay Mỹ, những tên giặc lái phải đền tội. Đây là những chiếc máy bay thứ 100 và thứ 101 của Mỹ bị bắn rơi ở Hàm Rồng. Tháng 1-1972, Tỉnh ủy chỉ thị cho Đảng bộ, lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh phải "tăng cường mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi hoạt động chiến tranh bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ"[2].

Trước tình hình ấy, Thị ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo Ủy ban hành chính Thị xã và các đoàn thể quần chúng tiến hành đợt tập trung tuyên truyền, làm công tác tư tưởng, tổ chức và chuẩn bị về mọi mặt, để đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt lần thứ hai.

Khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, các cơ quan Dân Chính Đảng Thị xã lại di chuyển, sơ tán lên xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn.

Nhân lực đã được huy động để sửa hầm hào cũ, đào hầm hào mới; tất cả được 9.970 chiếc, trong đó có 5.165 hầm chữ A (hầm Quảng Bình). Song song với công tác đào hầm hào, Thị xã đã tổ chức thông suốt hệ thống báo động phòng không bằng truyền thanh, hoặc loa, kẻng để chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của địch. Song song với công việc trên đã tổ chức chu đáo cho 35.614 người trong tổng số 61.658 nhân khẩu nhân dân, 12.000 cán bộ công nhân viên chức các cơ quan xí nghiệp Nhà nước sơ tán khỏi Thị xã; 9.868 người dân đã tản ra các xã xung quanh khi có chiến sự ác liệt. Thầy trò các trường học sơ tán về các xã vùng ven Thị xã.

Tháng 1-1972, Thường vụ Thị ủy đã thông qua phương án kế hoạch phòng không nhân dân, do Ban Chỉ huy Thị đội trình bày, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, phòng chống gián điệp, biệt kích, tập kích của địch và ra nghị quyết phân công các Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ về chỉ đạo cơ sở chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.

Công tác sẵn sàng chiến đấu, sơ tán phòng tránh triệt để trở nên rất khẩn trương. 20 giờ 30 ngày 23-4-1972, nhận được lệnh của cấp trên báo sẽ có nhiều tốp máy bay B52 đánh vào Thị xã Thanh Hóa, Ban Chỉ huy Phòng không nhân dân kịp thời phân công cán bộ đi truyền đạt cho các cơ sở, nhất là khu vực Đông Sơn, Đông Tác, Nam Ngạn phải triệt để sơ tán, mỗi nơi chỉ để lại 1 tiểu đội dân quân được tăng cường trang bị và ẩn nấp ở các hầm quanh làng sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra. Cùng với tổ chức việc phòng tránh sơ tán, giải quyết hậu quả chiến tranh, cấp ủy, chính quyền địa phương đã chú ý công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng kiên định về tư tưởng, không hoang mang dao động. Đồng thời, tháng 5-1972, Thị xã lập Đại đội Thanh niên xung phong 2595 gồm 90 chiến sĩ do đồng chí Lê Văn Sướng làm Đại đội trưởng, tham gia Tổng đội Thanh niên xung phong 572 xây dựng tuyến đường Na Mèo  - Sầm Nưa giúp cách mạng Lào.

 Năm 1972, đế quốc Mỹ dùng máy bay ném bom và hạm tàu pháo kích với tính chất hủy diệt vào Thị xã Thanh Hóa. Quân dân Thanh Hóa đã kiên cường đánh trả, giữ vững trận địa, khiến địch phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề.

Đúng 2 giờ 25 phút ngày 24-4-1972, địch cho nhiều tốp máy bay ném bom xuống Hàm Rồng - Nam Ngạn. Đến 4 giờ 15 phút, sau trận ném bom thứ 8 thì địch tạm ngưng. Cầu Hàm Rồng vẫn còn nguyên vẹn, nhưng làng Nam Ngạn thì thiệt hại nặng nề, 9 cụ già ở lại làng hầu hết bị thiệt mạng và 1 nữ pháo thủ hy sinh, có những khẩu đội pháo hy sinh hầu hết.

18 giờ 30 phút ngày 7-5-1972, một máy bay A3J từ phía Bắc lao theo trục Quốc lộ 1A vào cầu Hàm Rồng, vừa tới mục tiêu thì bị lực lượng phòng không bắn rơi, 2 tên giặc lái nhảy dù bị dân quân Đông Hải bắt sống. Ngày 14-6-1972, đế quốc Mỹ đã điều động 24 lần chiếc máy bay đánh phá nhiều cơ sở sản xuất trong Thị xã. Máy bay Mỹ đã trút bom vào khu vực đê Nam Ngạn đúng lúc 2.000 giáo sinh trường Sư phạm 7+2, y sinh trường Y và giáo viên khu vực Thị xã đang đắp đê, làm 63 người chết và gần 200 người bị thương[3].

Ngày 14-8-1972, địch cho 18 lần chiếc máy bay ném 65 quả bom hủy diệt xã Đông Vệ và Xí nghiệp Dược phẩm, làm chết 26 người, bị thương 9 người. Buổi chiều cùng ngày, địch lại cho 18 lần chiếc máy bay đánh Hàm Rồng gây thêm nhiều tội ác. Ngày 15-8-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu vực Ga Thanh Hóa, xã Đông Thọ. Ngày 9-9-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu vực phường Ba Đình, xã Đông Vệ, hợp tác xã Toàn Thành, rạp Hội An, hợp tác xã Hợp Tiến..., nhiều nhà cửa kho tàng, trường học bị phá hủy, hàng chục người chết và bị thương. Ngày 6-10-1972, giặc Mỹ cho máy bay ném bom điều khiển bằng tia laze đánh sập cầu Hàm Rồng. Ngày 19-10-1972, 18 lần chiếc máy bay đánh vào khu  vực Ga Thanh Hóa, Trường Thi, Công viên thiếu nhi. Nhiều nhà cửa, kho tàng, cơ quan bị san bằng, 5 người chết, 14 người bị thương,...

Thiệt hại do giặc Mỹ gây ra đối với nhân dân Thị xã Thanh Hóa trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 rất nặng nề. Đảng bộ Thị xã cũng chịu tổn thất lớn: đồng chí Hoàng Tửu, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã[4] hy sinh.

Tính cả năm 1972, trong địa bàn Thị xã, giặc Mỹ đã đánh phá 82 trận (có 9 trận ban đêm, 27 lần chiếc máy bay B52, 1.308 lần chiếc máy bay phản lực các loại), ném xuống Thị xã 10.395 tấn bom đạn các loại, với 6.599 bom phá, 53 quả tên lửa, 96 quả bom từ trường, nhiều bom bi và rốc két. Chúng tổ chức 7 lần pháo kích với hơn 7.000 quả pháo cỡ 122 đến 175 ly. Không có Tiểu khu, xã, hợp tác xã, cơ quan nào không bị tàn phá, kể cả nhà Chung Thanh Hóa, nhiều tiểu chủng viện cũng bị ném bom; trụ sở cơ quan Thị ủy và Ủy ban hành chính Thị xã bị bom đạn Mỹ phá hủy; gây ra 68 hố bom trên các tuyến đường đòi hỏi khối lượng san lấp gấp 2 lần thời 4 năm trước, Thị xã có 249 người chết, 436 người bị thương, 1.731 ngôi nhà (trong đó 351 nhà ngói) bị sập.



[1] Thành phố Thanh Hóa, Tập II, Sđd, trang 150.

[2] Chỉ thị số 01 CT/TU (lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa).

[3] Sự kiện này thể hiện sự dã man của giặc Mỹ, một phần do ta mất cảnh giác, khi huy động một lực lượng lớn vài ngàn người, tập trung đắp đê trên địa hình trống trải, không đủ hầm hào phòng tránh, lại làm việc vào ban ngày, cách trọng điểm địch đánh phá cầu Hàm Rồng chưa đầy 1 km. Sau khi xảy ra thiệt hại lớn, ta đã kịp thời chuyển phương án làm việc về ban đêm, chia nhỏ lực lượng làm việc theo ca kíp, vừa đào đắp, vừa chú ý chuẩn bị chỗ ẩn nấp, phòng tránh; xây dựng tổ chức báo động phòng không và chỉ huy hiệp đồng tác chiến chặt chẽ.

Năm 2011, Tỉnh và Thành phố Thanh Hóa đầu tư xây dựng công trình di tích tưởng nhớ 63 người đã hy sinh trong trận ném bom của đế quốc Mỹ ngày 14-6-1972, đồng thời cũng là dấu tích tố cáo tội ác dã man của đế quốc Mỹ.

[4] Ngày 9-10-1972, đồng chí Hoàng Tửu, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã  hy sinh. Tháng 11-1972, đồng chí Thiều Quang Mộc, Chính trị viên Thị đội, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã được cử làm Quyền Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã.

http://thanhhoacity.gov.vn/Documents/lich%20su%20dang%20bo%20TP%20TH/lang_namngan_bisap.JPG

 

 

Sự tàn bạo của kẻ thù chỉ càng làm tăng thêm chí căm thù giặc Mỹ. Trút căm thù lên đầu súng, các phân đội súng máy, pháo phòng không trên địa bàn đã hợp đồng tác chiến, kiên quyết đánh trả gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 18-5-1972, bộ đội Hàm Rồng bắn rơi 2 chiếc máy bay, tự vệ Xí nghiệp Mộc xẻ bắn rơi 1 chiếc. Trong các trận đánh ngày 14-6-1972; ngày 16-6-1972; ngày 01-8-1972 và ngày 21-12-1972, tự vệ các đơn vị xí nghiệp Mộc xẻ Bến Cốc, tự vệ Xí nghiệp Cơ khí tỉnh, Cơ khí kiến trúc. Nhà máy Cưa Mật Sơn, Thủ công nghiệp, phân đội súng máy của dân quân Đông Hải đã độc lập bắn rơi 4 chiếc máy bay phản lực Mỹ. Nam nữ dân quân Nam Ngạn và Đông Sơn đã dũng cảm phục vụ chiến đấu tại các trận địa ác liệt nhất như Đồi C4 anh hùng, đồi Không tên, Nhà máy Xay, đê Nam Ngạn. Tổ công binh Thị xã đã dũng cảm phá nổ 1 quả bom từ trường ở Bắc cầu Hàm Rồng, 1 quả ở bến phà 2 và 18 quả khác ở trên đồi, trên cánh đồng ... Riêng tổ công binh làng Đông Sơn đã phá được 23 quả bom từ trường. Ngày 30 Tết Quý Sửu, tại làng Lễ Môn - Đông Hải đã phá hơn 20 quả bom từ trường[1].

Để đề phòng âm mưu tiến công của địch bằng bộ binh, Ban Chỉ huy Quân sự Thị xã tổ chức 1 đại đội cơ động, gồm bộ đội phục viên và thanh niên trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, tập trung huấn luyện trong 20 ngày, được biên chế, trang bị đầy đủ như một đại đội bộ đội chủ lực. Sau lớp học, anh em được đem theo vũ khí trở về cơ sở sản xuất và công tác, khi có lệnh tập trung, sẵn sàng trở lại đội ngũ chiến đấu.

Về công tác phục vụ chiến đấu, các làng Đông Sơn, Đông Tác, Đông Quang, Nam Ngạn đã liên hệ với các trận địa pháo và được sự giúp đỡ của bộ đội pháo cao xạ, huấn luyện được 48 pháo thủ dự bị, kết hợp với Phòng Y tế và Bệnh viện Thị xã huấn luyện được 72 chiến sĩ cứu thương.

Từ tháng 4 đến tháng 9-1972, Thị xã đã huy động 57.000 ngày công xây dựng trận địa tên lửa; 17.500 công sửa chữa trận địa pháo cao xạ Hàm Rồng. Tiêu biểu cho công tác phục vụ bảo đảm chiến đấu trong mọi tình huống là các đơn vị: Đông Tác, Điện Hàm Rồng, Nam Ngạn, Nam Kỳ 40, Điện Biên và phòng Thị chính ... Thị ủy đã đặt đúng mức việc chỉ đạo công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nên trong suốt thời gian chiến tranh phá hoại lần thứ hai và những năm khôi phục kinh tế - văn hóa, đã bảo vệ an toàn tài sản của nhân dân, của Nhà nước và hợp tác xã.

Về nhiệm vụ của hậu phương đối với tiền tuyến, mặc dù phải đảm bảo chiến tranh tại chỗ, nhân dân Thị xã vẫn tích cực làm nhiệm vụ hậu phương với tiền tuyến và luôn thực hiện vượt mức nghĩa vụ tuyển quân mà cấp trên giao, điển hình là các đơn vị: Tiểu khu Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Điện Biên, Đông Sơn, Nam Ngạn, Phú Sơn, Đông Hương, Đông Vệ... Nhiều gia đình đã có người con thứ 3, thứ 4, thứ 5 lên đường đánh giặc. So với chỉ tiêu được giao năm 1972, Thị xã đạt 102,2% đối với nam, 258,3% đối với nữ, bằng 2 lần năm 1964, giành cờ thưởng thi đua đơn vị "Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân chi viện tiền tuyến năm 1972".

Chiều ngày 6-10-1972 giặc Mỹ sử dụng bom điều khiển bằng tia laze đánh sập cầu Hàm Rồng. Để bảo đảm giao thông thông suốt, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, lực lượng quân đội, quân và dân Thị xã đã khẩn trương làm mới 3 cầu phao trên đoạn sông Mã, từ làng Giàng đến Nam Ngạn, để xe ôtô vượt qua sông Mã từ bờ Bắc sang bờ Nam an toàn.

Ngành đường sắt mở thêm trạm chuyển tải II, sau khi cầu Hàm Rồng bị đánh sập. Ngoài việc dùng xà lan chở hàng sang bờ Nam, còn dùng xe goòng chở hàng chạy trên đường ray "dã chiến", sau khi cầu bị đánh, chưa chữa kịp. Một đầu tầu hỏa trực sẵn ở bờ Nam, để kéo những toa goòng hàng từ bờ Bắc sang trong đêm tối. Khi đã chuẩn bị đủ hàng thì tàu hỏa mới chuyển tiếp vào tuyến trong.

Đoàn xếp dỡ I và đoàn xếp dỡ Đông Xuân Thị xã, khi có lệnh huy động lúc nào cũng sẵn sàng và tích cực, hăng hái bốc xếp hàng đưa vào kho, hoặc bốc lên tàu, xe, thuyền đưa vào tuyến trong.

Các điểm và phương tiện vượt sông Mã như ca nô, kéo phà, cầu phao… được tổ chức rất đa dạng, nên đã giải quyết được tình trạng giao thông ùn tắc. Bình quân số lượng xe pháo vượt sông Mã đạt 500 xe/đêm; đột xuất 1.600 xe/đêm. Tuyến vận tải thô sơ vào Nghệ An hình thành; Tỉnh giao cho Thị xã huy động 500 xe đạp, vận chuyển 3.600 tấn hàng hóa và 300 tấn vận chuyển bằng thuyền, trong thời gian 3 tháng. Thị xã đã huy động 571 xe đạp thồ của ngành tiểu, thủ công nghiệp, 6 tiểu khu và 5 xã, hoạt động theo các tuyến.

Tuyến Nam Thanh - Bắc Nghệ do đại đội xe đạp thồ của các hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đảm nhận, vận chuyển được 605 tấn, vượt nhiệm vụ 80 tấn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đảm bảo lực lượng an toàn. Tuyến II, vận chuyển từ các nơi tập kết hàng vào kho ở Thị xã, do các đại đội xe thồ các tiểu khu và các xã đảm nhiệm, đã vận chuyển được 7.691 tấn. Tuyến vận tải thuyền vượt kế hoạch được giao 2%.

Cuối tháng 12-1972, sau thất bại thảm hại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm ở Hà Nội, đế quốc Mỹ  buộc phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt ném bom miền Bắc, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Sáng sớm ngày 16-1-1973 lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh núi Ngọc, chào mừng chiến công hiển hách của quân dân Hàm Rồng đã bắn rơi 117 máy bay Mỹ. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, đã có 7 đơn vị được Nhà nước tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Đại đội 4 pháo cao xạ 37 ly, Nhà máy điện Thanh Hóa, Đội cầu 19-5, đồn Công an Nhân dân vũ trang Hàm Rồng, Đại đội dân quân Nam Ngạn, Trung đoàn pháo cao xạ 228 và Đội phòng cháy chữa cháy Công an Thị xã Thanh Hóa.

Vấn đề đảm bảo việc làm, bảo đảm thu nhập và cuộc sống ổn định cho lao động trong các hợp tác xã thủ công nghiệp, hợp tác xã vận tải khi sơ tán khỏi Thị xã là một thắng lợi lớn, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh cực kỳ ác liệt. Trẻ em trong độ tuổi đến trường đi học đều, người già cô đơn được chăm sóc, xã viên các hợp tác xã nông nghiệp vượt qua bom đạn vẫn bám sát đồng ruộng, cấy hết diện tích và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, các gia đình thương binh - liệt sĩ, gia đình có con em chiến đấu ở chiến trường B, C đều được quan tâm chăm sóc. Tất cả những việc làm trên thể hiện sự quan tâm chăm lo cuộc sống đồng bào của Thị ủy, chính quyền, các tổ chức quần chúng, của khối đoàn kết toàn dân và cũng là biểu hiện tính ưu việt của chế độ mới.

Để tuyên dương thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra ở miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam trong năm 1972, Nhà nước đã tặng thưởng: Huân chương Chiến công cho đơn vị Xí nghiệp Mộc Thanh Hóa, đơn vị Tự vệ Thủ công nghiệp Thị xã, Tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho nhân dân và lực lượng tự vệ Thị xã Thanh Hóa.

IV. XÂY DỰNG THỊ XÃ SAU CHIẾN TRANH, CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN, GÓP PHẦN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1973 - 1975)

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của đồng bào chiến sĩ trên toàn miền Nam cùng với chiến công của quân và dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của địch vào Hà Nội - Hải Phòng tháng 12-1972, đã buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt toàn bộ cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Ngày 27-1-1973 Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết.

Cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi căn bản, có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Nhân dân miền Bắc tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm tốt hơn nữa nghĩa vụ chi viện của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là điều kiện và thời cơ thuận lợi để quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Thanh Hóa, ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết (27-1-1973), Thị ủy đã chỉ đạo thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa về tổ chức khôi phục, xây dựng lại Thị xã; giúp đỡ các cơ quan cấp tỉnh từ nơi sơ tán trở về Thị xã.

Ngày 14-1-1973, Chủ tịch Ủy ban hành chính Tỉnh Thanh Hóa ban hành quy định hướng dẫn việc xây dựng lại Thị xã sau chiến tranh, bảo đảm các yêu cầu về giữ gìn trật tự, tuân theo quy hoạch, đảm bảo mỹ quan, tránh việc phá đi, làm lại gây lãng phí tiền của, công sức của nhân dân, của Nhà nước. Ngày 27-1-1973, Ủy ban hành chính tỉnh đã có văn bản hướng dẫn tiến hành mọi mặt khôi phục, xây dựng lại Thị xã. Các cơ quan Thị ủy, Ủy ban hành chính và các đoàn thể Thị xã đã khẩn trương di chuyển về Thị xã để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp cho các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân hồi cư về Thị xã.

Từ tháng 3 đến tháng 6-1973, trong đợt di chuyển lần 1, có 36 cơ quan Dân Chính Đảng của Tỉnh và Thị xã Thanh Hóa từ nơi sơ tán trở về Thị xã; các cơ quan còn lại trở về Thị xã từ tháng 7-1973 (đợt 2).

Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Thị ủy, các cấp ủy Đảng cùng với chính quyền đã tích cực tổ chức cho nhân dân Thị xã hồi cư, xây dựng lại Thị xã tỉnh lỵ sau những tháng năm bị giặc Mỹ phá hoại hết sức nặng nề.

Được sự giúp đỡ của nhân dân các xã ven thị, các huyện miền núi như Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân về luồng, nứa, tranh tre, nhân dân Thị xã đã nhanh chóng làm lại nhà cửa đã bị tàn phá, đổ nát bởi bom đạn của đế quốc Mỹ.

Song song với xây dựng công sở, nhà xưởng, bệnh viện, trường học, kho tàng,... Thị ủy tích cực lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân khẩn trương khôi phục và phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng ngàn bộ đội, thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, các gia đình nạn nhân chiến tranh.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng đã tổ chức, vận động hội viên, cùng các tầng lớp nhân dân tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm; tham gia công tác hậu phương quân đội; nâng cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu; tiếp tục đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Vụ mùa năm 1973 do ảnh hưởng nặng nề của bão lụt, Thị xã bị nhiều thiệt hại lớn: 1.261 ha lúa bị mất trắng; 100 ha còn lại bị giảm năng suất nhiều, chỉ còn thu hoạch được 263 tấn thóc. Trên 4 vạn hộ với hơn 2 vạn nhân khẩu nông nghiệp thiếu ăn. Nông nghiệp mất mùa, nên việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng có phần chững lại.

Sau khi nhân dân hồi cư và các cơ quan lần lượt trở về, số người tăng thêm, nhưng diện tích đất làm nhà lại giảm vì mở rộng các tuyến đường hết 27 ha, đất cơ quan sử dụng tăng thêm 13 ha, nên phải di chuyển 1.584 hộ dân, đây là một vấn đề cấp bách và vô cùng phức tạp.

Do nhu cầu đất ở của nhân dân, Ban Quy hoạch thống nhất với Ủy ban hành chính Thị xã hình thành 2 khu dân cư mới: Tân An, Hoàng Văn Thụ với tổng diện tích trên 3.000m2 để bố trí cho 200 hộ dân. Ngoài ra còn quy hoạch đất cho 4 hợp tác xã vận tải thuyền, đất cho hợp tác xã Nghĩa Phương trở về và gần 200 hộ công nhân viên chức chưa có nhà ở. Đến hết năm 1973, nhân dân Thị xã làm và sửa chữa được 2.718 ngôi nhà, trong đó có 229 nhà ngói.

Năm học 1973-1974, Thị xã tập trung kinh phí xây dựng mới 86 phòng học trong khu vực nội thị (trong đó có 57 phòng lợp ngói); xây dựng Trường cấp III Lam Sơn với tổng diện tích 5.140 m2, xây dựng Trường cấp III Hàm Rồng. Trường cấp III Lam Sơn tiếp tục mở thêm các lớp năng khiếu và mở thêm 2 lớp 8.

Năm học 1973-1974, Thị xã Thanh Hóa có 15.603 học sinh phổ thông ba cấp I, II, III (gấp 2 lần so với năm 1964). Đến năm học 1977-1978, toàn Thị xã có 21.293 học sinh cấp I, II, III; số học viên bổ túc văn hóa tăng lên 2.900 người, tính bình quân cứ 4 người dân có 1 người đi học. Trong năm học này, Thị xã hợp nhất các lớp vỡ lòng vào các Trường cấp I với tổng số 1.288 em. Số học sinh tăng nhanh đòi hỏi phải xây dựng và mở rộng trường lớp. Đảng bộ và nhân dân Thị xã đã quan tâm tu sửa và xây dựng, củng cố cơ sở vật chất trường lớp; đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt”, nhờ đó chất lượng giáo dục được nâng lên. Toàn Thị xã có 114 giáo viên đạt danh hiệu “Giáo viên Thăng Long”.

Thư viện thiếu nhi được thành lập với gần 4.000 đầu sách, thường xuyên có trên 300 độc giả nhỏ tuổi, hè năm 1974 mở được 3 lớp ca nhạc, hội họa cho hơn 200 em. Thị xã có 8 đội thông tin lưu động, 22 tổ truyền tin gồm 85 người hoạt động tích cực, kịp thời chuyển tải tin tức chiến tranh từ chiến trường miền Nam, những tin tức nóng hổi trong nước và trên thế giới đến với các tầng lớp nhân dân. Một số công trình thể dục - thể thao được quan tâm xây dựng; đã san lấp mặt bằng xây dựng sân vận động Thị xã và sân chơi thiếu niên (ở khu vực bến ô tô Vinh cũ, nay là công viên phía Nam đường Nguyễn Bá Ngọc).

Khi có chủ trương hồi cư, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã tập trung di chuyển hàng trăm tấn máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa từ nơi sơ tán về Thị xã, sửa chữa và xây dựng lại nhà xưởng, trang bị thêm máy móc, công cụ, ổn định sản xuất, đảm bảo đời sống xã viên. Nhiều mặt hàng mới đã ra đời: Vỏ ca nô, xà lan do Tập đoàn Nam Kỳ 40 sản xuất, máy bóc sắn, két bạc và khóa tủ của hợp tác xã Hợp Tiến, Chiến Thắng. Vành xe cải tiến, quạt bàn nhỏ tai thỏ của hợp tác xã Phương Nam; hàng sành tráng men của hợp tác xã Quyết Thắng; bóng đèn đánh cá biển của hợp tác xã Thống Nhất. So với năm 1971, sản xuất phụ tùng xe đạp năm 1974 tăng gấp 2 lần, vôi tăng 1,5 lần, gạch tăng 10 lần, ngói tăng 3 lần...

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp những năm 1973-1975 được phục hồi nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, năm 1975 vượt kế hoạch 12%, 26/36 hợp tác xã đã hoàn thành vượt mức kế hoạch.

Sau chiến tranh, đồng ruộng còn rải rác nhiều bom đạn, vì vậy công việc tháo gỡ, rà phá bom mìn được tiến hành khẩn trương, công tác san lấp hố bom trả lại mặt bằng cho đồng ruộng được triển khai tích cực. Công tác thủy lợi, hoàn chỉnh thủy nông được chú trọng. Khối lượng đào đắp kênh mương trong 3 năm 1973 - 1975 lên đến 150.000m3, 1.000ha mặt ruộng được hoàn chỉnh tưới tiêu. Lượng phân bón được khai thác phục vụ sản xuất. Tất cả 12 hợp tác xã nông nghiệp đều tiến hành tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý theo tinh thần các Chỉ thị 208-209 của ban Bí thư Trung ương Đảng. Vùng rau chuyên canh đã được nâng lên, 7,4ha rau nước và 40ha rau cạn trên đất các hợp tác xã Đông Vệ, Phú Sơn, Công Nông, Quảng Thắng. Nhiều hợp tác xã quyết tâm đưa chăn nuôi lên sản xuất chính như: Quảng Thắng, Phú Sơn, Minh Khai. Năm 1973 do ảnh hưởng bão lụt nặng nề, nông nghiệp chỉ thu hoạch được 2.796 tấn, thì năm 1974 thu hoạch tăng gấp hơn 2 lần (6.090 tấn thóc, đạt năng suất 5,020 tấn/ha).

Cùng với giải quyết hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, công tác tuyển quân trong 3 năm 1973 - 1975 đều vượt nhiệm vụ được giao cả 5 đợt; riêng năm 1975 chỉ giao trọn một đợt trong mùa Xuân vượt 33,9% nhiệm vụ. Ngoài ra còn tuyển thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, dân công phục vụ chiến trường C, thanh niên xây dựng kinh tế mới ... Thị xã được Tỉnh công nhận là một trong 5 đơn vị huyện, thị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người cho tiền tuyến.

Trước thắng lợi to lớn của chiến trường, ngày 31-3-1973, Bộ Chính trị họp chủ trương động viên cao độ nhanh chóng lực lượng của cả nước, giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là tháng 4 không để chậm trễ. Tiếp đó, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Chiến dịch được vinh dự mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh "Độc Lập" báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cả nước đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Bác Hồ trước lúc Người đi xa "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội vang về Thị xã Thanh Hóa. Cả Thị xã tràn ngập cờ, hoa và biểu ngữ, những nét mặt hân hoan, rạng rỡ trong niềm vui lớn của toàn dân tộc.

Ngày 30 - 4 - 1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Nghị quyết đặc biệt về tổ chức các hoạt động chào mừng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Thực hiện Nghị quyết, Thị ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành trên  địa bàn Thị xã đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Các cấp, các ngành, cơ quan và dân Thị xã đã tổ chức các cuộc mít tinh, tuần hành, treo cờ kết hoa, rước ảnh Bác Hồ, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng chiến thắng. Đồng thời, tổ chức phát động chiến dịch thi đua lấy tên “Chiến dịch mừng giải phóng Sài Gòn” từ ngày 1-5 đến ngày 19-5-1975, nhằm hoàn thành kế hoạch công tác, tạo chuyển biến mới về mọi mặt.  

Ngày 1-5-1975, Ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày lễ mừng chiến thắng của toàn dân tộc Việt Nam, của cán bộ và nhân dân Thị xã. Hơn một vạn người kéo về Nhà hát nhân dân dự mít tinh tuần hành, chào mừng ngày toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Mười năm vừa sản xuất vừa chiến đấu, Đảng bộ Thị xã đã lãnh đạo nhân dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, dưới ánh sáng của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc chiến đấu một mất, một còn với kẻ thù, ý chí quyết chiến, quyết thắng của nhân dân Thị xã càng được hun đúc hơn bao giờ hết và đã trở thành sức mạnh vô địch, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trong mười năm đó, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Thanh Hóa đã đưa tiễn 5.413 thanh niên lên đường ra tiền tuyến. Hàng trăm gia đình có từ 4 đến 7 con nhập ngũ. Trong sản xuất chiến đấu và phục vụ chiến đấu nơi mảnh đất Hàm Rồng, Nam Ngạn rực lửa và rực rỡ chiến công đánh Mỹ và thắng Mỹ, những người con của Thị xã đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng như: Ngô Thị Tuyển, Lê Kim Hồng, Đỗ Chanh (Nhà máy Điện); và hàng trăm liệt sĩ, thương binh đã hy sinh xương máu, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa quê hương vững bước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hòa cùng niềm vui thắng lợi vĩ đại của dân tộc, từ ngày 26 đến ngày 31-3-1975, tại Hội trường Thị ủy, Đảng bộ Thị xã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ IX. Đại hội đã nghe báo cáo về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ trong nhiệm kỳ khóa VIII. Đại hội nhất trí đánh giá: "Bốn năm qua, liên tục phấn đấu cách mạng sôi nổi, động viên toàn Đảng bộ và nhân dân Thị xã phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn phong trào Thị xã có chuyển biến mới, giành được những thành tích quan trọng, nhất là về chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giao thông vận tải, trật tự  trị an đạt những thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đại hội Đảng bộ Thị xã. Đã có chuyển biến bước đầu thực hiện Nghị quyết 19, 20, Nghị quyết 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng".

Bên cạnh những thành tích đạt được, Đại hội cũng nghiêm khắc kiểm điểm những hạn chế còn tồn tại trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đó là: "So với yêu cầu của thời kỳ mới, mục tiêu của Đại hội Thị Đảng bộ và phương hướng các Nghị quyết 19, 20, 22 của Trung ương Đảng, những thành tích đạt được chưa tương xứng mà còn nhiều khuyết nhược điểm trong các mặt chiến đấu và trị an, khôi phục và phát triển, kinh tế còn chậm, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp c òn trì trệ, và việc củng cố xây dựng hợp tác xã còn buông lỏng khá dài, công tác quản lý lao động, tài vụ chưa được chặt chẽ, lao động chưa tập trung vào sản xuất nông nghiệp”, ...

Đại hội đã dành nhiều thời gian kiểm điểm, đánh giá công tác xây dựng Đảng. Đại hội nhấn mạnh đây là công tác trọng tâm, then chốt và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với Thị xã - Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng là nơi tập trung đầu mối giao thông quan trọng.

Căn cứ đặc điểm, tình hình mới của Thị xã, Đại hội ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ chung năm 1975 và những năm tới là:

1. Tập trung mọi khả năng sức lực của các ngành, các cấp đẩy mạnh sản xuất kinh tế phát triển, nhằm sử dụng hết mọi khả năng lao động xã hội là khâu cơ bản nhằm phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, thúc đẩy mọi mặt văn hóa - xã hội trong năm 1975 và những năm tới.

2. Tăng cường công tác quản lý kinh tế, văn hóa, quản lý thị xã, quản lý Nhà nước làm cho các mặt quản lý có những tiến bộ rõ rệt, phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, nhằm củng cố và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả hai khu vực quốc doanh và tập thể, tổ chức xây dựng cuộc sống mới tươi vui, lành mạnh.

3. Nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, tăng cường công tác quân sự địa phương, công tác bảo vệ trật tự trị an xã hội, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, ngăn ngừa và đánh bại mọi hành động chiến tranh tâm lý gián điệp và mọi hoạt động phá hoại của địch, đáp ứng đầy đủ nhất các yêu cầu chi viện người và của cho cách mạng miền Nam...

Để thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ trên, cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Phát động quần chúng thi đua lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm; tăng cường công tác quản lý, củng cố và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

- Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ các tệ nạn xã hội và những tư tưởng hành động tiêu cực trong tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, tổ chức đời sống xã hội.

- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, chú trọng các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và kiểm tra, phấn đấu năm 1975 đạt 70% đảng viên phấn đấu tốt, loại trừ đảng bộ quá kém.

Đại hội cũng đã đề ra chủ trương tăng cường củng cố chính quyền, kiện toàn tổ chức và cải tiến lề lối làm việc từ cấp thị đến tiểu khu, có đủ năng lực quản lý kinh tế, quản lý hành chính địa phương, bảo đảm thật sự có hiệu lực trong quản lý nhà nước và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ khóa IX gồm 21 đồng chí;  Ban Thường vụ gồm 6 đồng chí. Đồng chí Hồ Văn Huấn được bầu làm Bí thư Thị ủy, đồng chí Thiều Quang Mộc làm Phó Bí thư (Chủ tịch Ủy ban hành chính Thị xã).

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa IX, Đảng bộ Thị xã có bước trưởng thành nhanh chóng và toàn diện. Đội ngũ cán bộ ngày càng được tăng cường và luôn đoàn kết, thống nhất, tổ chức Đảng thường xuyên được củng cố chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã biểu thị lòng trung thành vô hạn, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sản xuất, học tập và công tác.

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ rất chú trọng nâng cao năng lực, trình độ nhận thức và lý  luận của cán bộ, đảng viên, quan tâm đào tạo và đề bạt cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ nghiệp vụ cao; kiện toàn cấp ủy Đảng các tiểu khu, xã, cơ quan, xí nghiệp. Đồng thời đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc, chống tệ quan liêu, mệnh lệnh, nhắc nhở cán bộ, đảng viên tăng cường mối quan hệ với quần chúng. Đảng bộ Thị xã đã mở nhiều đợt giáo dục, rèn luyênnâng cao đạo đức cách mạng, phòng chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên.

Tính đến tháng 3 - 1975, Đảng bộ Thị xã có 108 tổ chức Đảng trực thuộc với 3.460 đảng viên. Chất lượng đảng viên đã từng bước được nâng lên; đảng viên trẻ chiếm 24,65%, đảng viên đứng tuổi 48,95%[2].

Về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của đảng viên nói chung còn thấp, trong đó: Cấp I có 22,6%; Cấp II có 66%; Đại học, trung học 13,24%, sơ cấp 8,48%.

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chất lượng cán bộ, đảng viên qua bình xét phân loại 6 tháng đầu năm 1974 như sau: Phấn đấu tốt 1.225 đồng chí, chiếm 57,16%; chưa tốt 767 đồng chí, chiếm 35,79%; yếu kém 151 đồng chí, chiếm 7,04%.

Đảng bộ đã lãnh đạo kiện toàn, củng cố, xây dựng các cơ sở Đảng yếu kém, phát triển và nhân các điển hình về cơ sở Đảng vững mạnh. Chế độ sinh hoạt thường kỳ hàng tháng được giữ vững, nội dung sinh hoạt nhìn chung đảm bảo chất lượng và giữ vững định kỳ đưa đảng viên kiểm điểm trước quần chúng, để quần chúng góp ý xây dựng, đã có tác dụng tốt trong công tác xây dựng Đảng. Công tác cán bộ được triển khai nghiêm túc; tiến hành lập quy hoạch đội ngũ cán bộ. Trong năm 1973-1974, đề bạt 18 cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể của Thị xã.

Trên cơ sở đó, Thường vụ Thị ủy yêu cầu các ban của Đảng và các cấp ủy Đảng phải quyết tâm phấn đấu xây dựng nhiều cơ sở vững mạnh, hạn chế và đi đến xóa chi bộ yếu kém; Đảng viên tốt phải đạt tỷ lệ cao, hạn chế tỷ lệ đảng viên trung bình, tiến tới xóa bỏ đảng viên yếu kém...

Công tác kiểm tra Đảng được tăng cường, Ban Thường vụ Thị ủy đã có nhiều biện pháp tích cực, giải quyết kịp thời các vụ việc, đơn thư tố giác cán bộ, đảng viên, nhất là năm 1973 và 1974. Trong công tác kiểm tra, tập trung thực hiện Chỉ thị 192 đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, trong đợt 2 thực hiện Chỉ thị 192 đã hoàn thành ở 43 điểm, đẩy mạnh thực hiện đợt 3 trong khối xí nghiệp,... Việc thực hiện Chỉ thị 192 của các điểm nhìn chung đảm bảo yêu cầu và thời gian.

Công tác xử lý đảng viên vi phạm được tiến hành thường xuyên và kịp thời, đảm bảo nguyên tắc thấu tình, đạt lý; đã xử lý 313 vụ, trong đó khai trừ 143 đảng viên, lưu Đảng 56 đảng viên; xử lý ngoài 5 hình thức là 29 đảng viên, chiếm 10,20% so với tổng số đảng viên; qua đó, ổn định tình  hình nội bộ và được dư luận rất đồng tình.

Tuy vậy so với nghị quyết của Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng còn biểu hiện một số nhược điểm:

- Công tác giáo dục tư tưởng chưa kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức, chưa coi trọng việc giáo dục chủ trương, chính sách lúc giao thời. Vấn đề bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chủ chốt chưa kịp thời.

- Một bộ phận đảng viên trực tiếp sản xuất trong khu vực tập thể và khu vực quốc doanh, còn có tư tưởng thu vén cho cá nhân, chưa tích cực tham gia công tác chung.

- Công tác cơ sở Đảng chưa được coi trọng thường xuyên, nội dung sinh hoạt chi bộ còn lúng túng, chất lượng kém, chi bộ yếu kém còn nhiều. Công tác xây dựng Đảng chưa gắn liền với việc phát động quần chúng và đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

Đội ngũ cán bộ chủ chốt đương chức chưa được bồi dưỡng, đào tạo kịp thời và chậm điều chỉnh, bố trí lại cho phù hợp với yêu cầu mới.

Công tác vận động quần chúng được các cấp ủy Đảng quan tâm, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kịp thời tổng kết, biểu dương thành tích của nhân dân Thị xã trong sản xuất, chiến đấu, động viên được tinh thần tự hào, phấn khởi, phát huy truyền thống anh hùng trong chiến đấu, khắc phục khó khăn do chiến tranh, thiên tai gây ra; gây được  phong trào tự giác của nhân dân, động viên quần chúng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.

Đoàn thanh niên Thị xã phát huy truyền thống "Ba sẵn sàng", phát huy vai trò xung kích, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; là đội xung kích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trong sản xuất, xung kích xóa vết tích chiến tranh khu vực Hàm Rồng; tổ chức đắp đê, xây dựng công trình thủy lợi ... Công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng trong các trường học và khu vực đường phố bước đầu đi vào nền nếp.

Hội Phụ nữ đẩy mạnh phong trào "Ba đảm đang", nâng cao lòng tự hào phấn khởi, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chính sách hậu phương quân đội, động viên gia đình có quân nhân đang chiến đấu và công tác trên chiến trường B, C, khắc phục hậu quả lũ lụt, đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, đạt kết quả tốt.

Công đoàn Thị xã có nhiều biện pháp tích cực giáo dục đoàn viên ý thức làm chủ và nghĩa vụ lao động, tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn trong sản xuất, tổ chức đời sống, bảo vệ tài sản của các xí nghiệp ... thực hiện Nghị quyết 46 của Hội đồng Chính phủ và Tổng Công đoàn Việt Nam về việc hợp đồng kinh tế giữa Công đoàn và giám đốc xí nghiệp.

Hội phụ lão thúc đẩy phong trào "3 mẫu mực", động viên phong trào tòng quân, lao động sản xuất, trồng cây, tu sửa công viên, sửa chữa nhà cửa cho gia đình có con em chiến đấu trong chiến trường B, C bị địch đánh phá ... động viên các cụ phụ lão xây dựng nhà ở cho học sinh miền Nam. Công tác vận động quần chúng đồng bào vùng công giáo được quan tâm hơn trước. Tiêu biểu là các cụ phụ lão ở phố Trần Phú, tiểu khu Hoàng Hoa Thám được Mặt trận Tổ quốc Tỉnh tặng cờ khá nhất về chi viện và được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba về thành tích chi viện...

Hội đồng nhân dân Thị xã đã quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, động viên nhân dân làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước và thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ủy ban hành chính Thị xã đã đảm bảo chấp hành tốt các chủ trương của Thị ủy và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thị xã, tổ chức chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện tốt kế hoạch Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu, chi viện cho tiền tuyến, giữ gìn trật tự trị an, ổn định nơi ăn, chốn ở, đảm bảo đời sống nhân dân..., quản lý xã hội đạt kết quả tốt.

Trải qua 10 năm vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương, một chặng đường đầy gian khổ, khó khăn nhưng cũng rất tự hào, vẻ vang. Quán triệt và vận dụng đường lối đúng đắn sáng tạo vào tình hình cụ thể của địa phương, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Thị xã phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu, ra sức xây dựng và bảo vệ quê hương, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến.

Trên mặt trận kinh tế-xã hội, mặc dù trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, trong bối cảnh vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tập trung chi viện cho tiền tuyến, thiên tai thường xuyên xảy ra,… nhưng Thị xã vẫn đạt được những kết quả quan trọng.

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dựng và củng cố một bước, xóa bỏ nguồn gốc bóc lột tồn tại từ bao đời.

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được duy trì, hình thành một số cơ sở sản xuất quan trọng và khôi phục nhiều ngành nghề truyền thống. Ngành tài chính, thương nghiệp đã khắc phục khó khăn, vươn lên phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ngày một tốt hơn. Kinh tế nông-lâm nghiệp có những chuyển biến tích cực, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi tăng.

Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông phát triển nhanh, trở thành một trong những đơn vị có phong trào giáo dục mạnh của tỉnh. Công tác y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Hoạt động văn hóa-văn nghệ, thể dục thể thao góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao một bước.

Trong công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng, Đảng bộ và nhân dân Thị xã đã đạt những thành tích nổi bật, nhất là công tác đảm bảo sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi; hoàn thành tốt nghĩa vụ tuyển quân hàng năm; nâng cao cảnh giác và đấu tranh chống các thế lực phản động; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị được tăng cường. Đảng bộ Thị xã, đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu, trong công tác, có bước trưởng thành nhanh chóng, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, làm nòng cốt trong các phong trào thi đua của nhân dân thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam toàn thắng, non sông thu về một mối. “Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người”[3].

Trong chiến đấu bảo vệ quê hương, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã thể hiện rõ khí phách anh hùng, sáng tạo, dũng cảm, mưu trí đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ. Đảng bộ và nhân dân Thị xã huy động được nguồn lực mạnh mẽ nhất, góp sức người, sức của, cùng đồng bào và chiến sĩ Tỉnh Thanh Hóa và cả nước đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Những thành tựu đạt được, những bài học kinh nghiệm được tích lũy trong khói lửa chiến tranh chính là nguồn lực quí báu để Đảng bộ và nhân dân Thị xã bước tiếp sang một thời kỳ mới - thời kỳ cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 



[1] Những sự kiện lịch sự Đảng bộ huyện Đông Sơn (1954-1975).

[2]- Đảng viên kết nạp từ tháng 8-1945 trở về trước có 11 đồng chí.

- Từ tháng 8-1945 đến tháng 7-1954 có 734 đồng chí.

- Tháng 8-1954 đến tháng 12-1960 có 343 đồng chí.

- Tháng 1-1961 đến tháng 12-1964 có 429 đồng chí.

- Tháng 1-1965 đến tháng 12-1972 có 1.627 đồng chí.

- Từ năm 1973 đến tháng 3-1975 có 31 đồng chí.

 

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Nxb Sự  thật, Hà Nội, 1977, tr. 5-6