CHƯƠNG VII ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1986-2000)

Ngày 24/10/2014 15:53:44

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

I. QUÁN TRIỆT ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG, ỔN ĐỊNH VÀ CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (1986-1990)

Trong quá trình dự thảo các Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã phân tích sâu sắc sai lầm, khuyết điểm trong 10 năm (1975-1986) cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế trong việc hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước. Kết luận của Bộ Chính trị về ba quan điểm kinh tế: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ chế quản lý; cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới là sự đổi mới về chất trong tư duy kinh tế của Đảng, là định hướng để các địa phương xác định kế hoạch, chiến lược phát triển phù hợp điều kiện thực tế của địa phương mình.

Quán triệt tinh thần đổi mới được thể hiện trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, từ ngày 6 đến 11-10-1986 tại Hội trường Thị ủy, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, nhiệm kỳ 1986-1989. Dự Đại hội có 309 đại biểu thay mặt cho 7.364 đảng viên từ 145 cơ sở Đảng trong Đảng bộ.

Thấm nhuần tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, Đại hội khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - văn hóa, an ninh - quốc phòng, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị từ Thị xã đến cơ sở theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XII; nêu ra nguyên nhân khách quan và chủ quan của những thành công và chưa thành công.

Kiểm điểm công tác lãnh đạo của Thị ủy, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ nêu rõ: "Chỉ thị, nghị quyết của Thị ủy không sai đường lối quan điểm của Đảng, nhưng có nghị quyết chưa thật cụ thể, chưa rõ biện pháp, chính sách thực hiện. Nhận thức đường lối quan điểm của Đảng chưa nhất quán (như vấn đề phát triển thủ công nghiệp, xuất khẩu, vấn đề cải tạo tư tưởng, quản lý thị trường tận gốc, v.v...) chậm đổi mới phong cách làm việc và chưa cụ thể hóa được cơ chế Đảng lãnh đạo thông qua chính quyền và đoàn thể...”.

Đại hội phân tích sâu sắc những thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, thảo luận và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu trong 3 năm 1986-1988, phấn đấu xây dựng "Thị xã Thanh Hóa phải trở thành trung tâm của sản xuất công nghiệp - nông nghiệp tiên tiến, dịch vụ và đời sống phát triển tiêu biểu cho nền kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán tốt đẹp và nếp sống văn minh của cả tỉnh".

Từ phương hướng, nhiệm vụ chung đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ trọng tâm:

1. Xuất phát từ phương hướng cơ bản của Tỉnh: "Từ lương thực, xuất khẩu và sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên", ổn định và tiếp tục phát triển mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất tiểu, thủ công nghiệp; phát triển giao thông vận tải; mở rộng dịch vụ, chú trọng dịch vụ đời sống. Phát triển nông nghiệp toàn diện, tập trung thâm canh tăng năng suất, hình thành vành đai thực phẩm ổn định. Mọi người có việc làm và đời sống ổn định.

2. Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, truyền thanh, thể dục thể thao... làm tốt công tác nhà đất, từng bước xây dựng đô thị theo quy hoạch để đổi mới bộ mặt của Thị xã.

3. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Tăng cường kinh tế quốc doanh, củng cố phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế gia đình phát triển đúng hướng.

4. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, hệ thống chính quyền có đủ năng lực quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, các đoàn thể quần chúng vững mạnh.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIII gồm 39 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Tạ được bầu làm Bí thư; Đồng chí Trịnh Đình Bốn làm Phó Bí thư Thường trực; đồng chí Trần Văn Lãm làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII, từ ngày 23 đến 29-10-1986, đã xác định phương hướng, nhiệm vụ của Tỉnh những năm 1986-1990: “Từ lương thực, xuất khẩu, sản xuất hàng hóa phong phú mà đi lên. Từ đó xây dựng cơ cấu kinh tế nông-lâm-ngư-công nghiệp và dịch vụ sát hợp. Gắn liền kinh tế với xã hội, coi trọng chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, lấy giáo dục phổ thông và bảo vệ sức khỏe làm cơ bản. Thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và an ninh nhân dân; lấy dân làm gốc, lấy cơ sở làm nền tảng, lấy sức mạnh tại chỗ làm chính. ... Nâng cao năng lực lãnh đạo và ý chí cách mạng tiến công, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, tiếp cận tiến bộ khoa học hiện đại, thực hiện cơ chế quản lý mới, sáng tạo cách làm, đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.

Bảo đảm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, trên cơ sở giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nâng cao kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, chủ trương, cơ sở pháp luật cho nhân dân, nhằm hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng về tư tưởng, tổ chức và phong cách làm việc; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các hiện tượng tiêu cực; xây dựng khối đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, ý thức tổ chức kỷ luật; đổi mới công tác cán bộ và phong cách làm việc.

Tháng 12-1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Đại hội xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân ta trong những năm 1986-1990 là tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, là bước ngoặt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; là những định hướng lớn, mở ra cơ hội để Thị xã cùng các địa phương trong cả nước phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh để thực hiện thành công đường lối đổi mới, trọng tâm trước mắt là ba chương trình kinh tế lớn.

Bước vào năm 1987, đồng thời với tổ chức các đợt học tập quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, Đảng bộ Thị xã đã tổ chức một số hội nghị quan trọng nhằm cụ thể hóa và xác định những giải pháp thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng.

Trong hai ngày 12 và 13-1-1987, Thị ủy họp tổng kết công tác năm 1986 và bàn phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể năm 1987 theo quan điểm đổi mới. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: "... ngay từ năm 1987 Thị xã chúng ta phải đổi mới mọi mặt, nhất là kinh tế, văn hóa. Phấn đấu tiến nhanh, tiến mạnh, không chần chừ, bỏ lỡ, thời gian với ý thức là không để thua kém các huyện, thị bạn". Trọng tâm công tác năm 1987 là phấn đấu thực hiện có kết quả ba chương trình, mục tiêu:

- Chương trình hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.

- Chương trình sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm.

- Chương trình nếp sống văn hóa mới.

Năm 1987 là năm đầu thực hiện Nghị quyết VI của Đảng trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ Thị xã đã tiếp thu, vận dụng đúng đắn, kịp thời chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh ủy, nhất là quan điểm mới về kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Thị ủy, sự chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân Thị xã, "Nhiều đơn vị đã chủ động, tích cực phát huy được tính năng động, vươn lên hoàn thành mục tiêu kế hoạch Nhà nước đề ra, đảm bảo đời sống người lao động đỡ khó khăn hơn, phong trào thi đua yêu nước trong lao động sản xuất đang có sức phát triển. Nhất là phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, tự trang, tự chế công cụ, phương tiện làm việc nhằm đưa năng suất lao động ngày càng cao. Chất lượng sản phẩm ngày càng tốt, hiệu quả kinh tế ngày càng rõ rệt. Đầu tư ngân sách, đầu tư phúc lợi, đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng để mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động đã được đồng thời chú ý đúng mức, đã tạo ra khả năng, triển vọng phát triển của sản xuất, phục vụ cho ba chương trình kinh tế của Đảng. Các hoạt động văn hóa - xã hội có kết quả khá. An ninh - quốc phòng được giữ vững, có mặt đi vào chiều sâu…”.

Thị ủy và Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI, phiên họp ngày 14/7/1987 về mở cuộc vận động “Hưởng ứng những việc cần làm ngay” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, với nội dung cơ bản là: Đấu tranh giải quyết dứt điểm các vụ việc tiêu cực mà xã hội bức xúc, đòi hỏi sớm giải quyết, nhằm củng cố lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, động viên tinh thần hăng hái sản xuất lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống tiêu cực, phát hiện và biểu dương kịp thời các nhân tố tích cực, nhân lên các điển hình tiên tiến.

Trên cơ sở tổng kết những kết quả bước đầu đạt được trong năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, ngày 26 và 27-1-1988, Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã họp và quyết định phương hướng nhiệm vụ năm 1988.

Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội của Thị xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nạn đói diễn ra trên phạm vi rộng, đời sống cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang vô cùng khó khăn.

Ngày 16-9-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra để xem xét, giúp đỡ Đảng bộ tỉnh giải quyết một số vấn đề nội bộ. Tháng 3-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo 74 về việc giải quyết vấn đề nội bộ của Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa. Sau khi có Thông báo 74, Tỉnh ủy điều động đồng chí Hoàng Văn Thịnh về làm Bí thư Thị ủy Thị xã Thanh Hóa.

Đồng thời với tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, Đảng bộ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, mà chủ yếu là đổi mới tư duy kinh tế, cơ chế quản lý, triển khai chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng giao lưu kinh tế, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng bằng nỗ lực lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, Thị ủy đã lãnh đạo đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những kết quả bước đầu quan trọng.

Về sản xuất công nghiệp, 13 đơn vị quốc doanh (trong nhiều ngành khác nhau) do Thị xã quản lý toàn diện được sắp xếp lại sản xuất, giảm biên chế gián tiếp theo tinh thần Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng.

Thực hiện Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, các thành phần kinh tế từng bước được tạo điều kiện phát triển và có nhiều đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thị xã. Bởi vậy, giá trị tổng sản lượng ngành kinh tế trong 3 năm 1986-1988 đã tăng 0,1% so với kế hoạch, tăng 33% so với những năm 1983-1985. Trong đó khu vực tiểu thủ công nghiệp đạt 150% kế hoạch; khu vực tổ sản xuất và tư nhân đạt 100% kế hoạch. Toàn ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp Thị xã sản xuất thêm 34 mặt hàng mới (kẹo bao viên xuất khẩu, thảm xuất khẩu...), mở rộng thêm 6.320 m2 nhà xưởng; liên kết khai thác gần 8000 tấn nguyên liệu phục vụ sản xuất, thu hút 575 lao động.

Thực hiện chủ trương phát triển các thành phần kinh tế của Đảng, Thị ủy khuyến khích nhân dân Thị xã phát triển sản xuất tổ tư nhân, gia đình. Ủy ban nhân dân Thị xã ra Quy định tạm thời số 161 về khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Trong 3 năm 1986-1988, khu vực này tạo ra giá trị tổng sản lượng trên 173 triệu đồng, bằng 35% toàn ngành công nghiệp-thủ công nghiệp của Thị xã. Việc thực hiện các chính sách kinh tế mới của Đảng đã có tác dụng tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội, kích thích tính năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân cũng như của các đơn vị sản xuất.

Ngày 29-1-1989, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ XIV. Đại hội kiểm điểm các mặt hoạt động của Đảng bộ trong nhiệm kỳ XIII và đề ra phương hướng hai năm 1989-1990.

Trong không khí dân chủ, công khai, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật", Đại hội đã thẳng thắn tổng kết, phân tích những mặt đã đạt được và chỉ ra những hạn chế về các mặt, rút ra một số bài  học kinh nghiệm. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, với tinh thần trách nhiệm cao trước yêu cầu đổi mới, Đại hội đã tập trung trí tuệ bàn bạc, hoạch định phương hướng cơ bản nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: "Đẩy mạnh phát triển sản xuất (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp), mở mang lưu thông hàng hóa, giải quyết việc làm cho người lao động, giữ vững và nâng cao dần mức sống cho nhân dân, củng cố xây dựng quốc phòng vững mạnh, đảm bảo cho Thị xã có nếp sống văn minh, trật tự an toàn xã hội".

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIV, nhiệm kỳ 1989-1991, gồm 35 đồng chí, bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Hoàng Văn Thịnh được bầu làm Bí thư; đồng chí Ngô Đức Kính làm Phó Bí thư thường trực; đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Sau Đại hội lần thứ XIV, Đảng bộ Thị xã đã triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành các chương trình hành động đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Nhằm tạo sự chuyển biến trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý được đặt ra cấp thiết. Ngày 10-5-1990, Ban Thường vụ Thị ủy ra Nghị quyết về Tiếp tục thực hiện đổi mới chính sách và cơ chế quản lý, tăng cường củng cố phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nghị quyết đi vào cuộc sống đã đánh thức và huy động được tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề kỹ thuật và tinh thần chủ động, sáng tạo của các tầng lớp dân cư Thị xã. Số lượng các đơn vị, cơ sở sản xuất khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh, đa dạng và phong phú về loại hình, góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.

Thị ủy Thanh Hóa chỉ đạo thực hiện Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng (năm 1988) về dân chủ hóa các hoạt động kinh tế, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho cơ sở phát huy quyền chủ động theo hướng hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Ngay sau khi có Quyết định 217, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Trước hết tổ chức đổi mới công tác quản lý đối với 3 doanh nghiệp quốc doanh; giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị; sắp xếp lại sản xuất, giảm biên chế gián tiếp, đầu tư nâng cao năng suất lao động, tạo thêm nhiều sản phẩm mới. Khuyến khích các thành phần kinh tế bung ra trong sản xuất kinh doanh, tạo sự phát triển phong phú, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa, hướng về xuất khẩu.

Đồng thời, các cấp Công đoàn mở Đại hội công nhân viên chức bầu Hội đồng xí nghiệp. Đến năm 1990 đã có 100% số đơn vị mở được Đại hội công nhân viên chức, ra Nghị quyết về sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, tìm các giải pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, cải tiến, thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm, đầu tư thiết bị, dây chuyền sản xuất mới...

Đến năm 1990, trong lịch vực sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, đã có 561 cơ sở sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, bao gồm 47  hợp tác xã chuyên và đa ngành nghề, 65 tổ hợp tác, 404 hộ cá thể và 1 xí nghiệp tư nhân, thu hút 483 lao động, đưa số lao động có công ăn việc làm lên 6.672 người. Các hộ tư nhân đã mạnh dạn bỏ vốn mua sắm phương tiện vận tải, đầu tư các ngành nghề... tạo thành lực lượng sản xuất mới, góp phần làm phong phú các mặt hàng trên thị trường, giải quyết việc làm cho người lao động.

Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, sang cơ chế quản lý kinh tế mới, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hầu hết các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp sản xuất không ổn định, còn lúng túng tìm bước đi trong cơ chế mới, giá trị sản lượng có xu hướng giảm dần (năm 1989 chỉ bằng 91% so với năm 1988; năm 1990 bằng 98% so với năm 1989 và chỉ đạt 67% so với mục tiêu Đại hội XIV đề ra).

Trong quá trình tổ chức lại sản xuất, một số đơn vị sản xuất tập thể thuộc ngành tiểu thủ công nghiệp và vận tải đã phát sinh vấn đề mới, có lúc có nơi khá phức tạp. Số đông xã viên ở những đơn vị này không đồng tình với cách quản lý và phân phối ... của Ban Chủ nhiệm hợp tác xã, đã kéo lên Thị ủy và Ủy ban nhân dân Thị xã khiếu kiện nhiều ngày, ảnh hưởng không tốt đến tình hình sản xuất và trật tự an toàn xã hội.

Trước tình hình ấy, được sự chỉ đạo kịp thời của Thường vụ Thị ủy, các cơ quan chức năng của cấp ủy, chính quyền địa phương đã quan tâm giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra, nhằm sớm ổn định tình hình và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh trong các hợp tác xã.

Ngày 6-12-1991, Ủy ban nhân dân Thị xã đã ban hành Quy định số 306, hướng dẫn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, nghiên cứu quán triệt và có kế hoạch triển khai thực hiện đồng bộ nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh.

Việc thực hiện nghiêm túc Quy định 306 của Ủy ban nhân dân Thị xã đã góp phần quan trọng chấm dứt tình trạng khiếu kiện, xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của xã viên. Đồng thời, tổ chức lại mô hình sản xuất của hợp tác xã; một số hợp tác xã chuyển thành hợp tác xã cổ phần, một số chuyển đổi thành tổ sản xuất với quy mô phù hợp. Tuy nhiên, sau chuyển đổi thành tổ sản xuất, máy móc, thiết bị kỹ thuật phân tán, hiện tượng thiếu việc làm gia tăng, đời sống của người lao động gặp khó khăn.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, tháng 4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp. Nghị quyết đánh dấu sự đổi mới căn bản về công tác khoán, với việc ổn định mức khoán 5 năm và giao đất ổn định, lâu dài từ 10 đến 15 năm cho các hộ nông dân; khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (còn gọi khoán 10) ra đời đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người nông dân, khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng đất đai, lao động; giải quyết những bế tắc về cơ chế, góp phần điều hòa lợi ích kinh tế của Nhà nước, tập thể và nông dân.

Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã họp bàn về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và chỉ đạo tổ chức lại hợp tác xã nông nghiệp. Cơ chế khoán 10 được thực hiện ở tất cả các  hợp tác xã nông nghiệp và nhanh chóng phát huy tác dụng. Quyền sở hữu tư liệu sản xuất của xã viên được mở rộng. Vai trò tự chủ sản xuất của xã viên được đề cao; xã viên mạnh dạn đầu tư công sức, tiền vốn thực hiện thâm canh tăng vụ để nâng cao năng suất, sản lượng lương thực. Chăn nuôi phát triển hơn, đàn trâu bò tăng 15,3% đạt mục tiêu về sức kéo, đàn lợn tăng 15%, đàn gia cầm tăng 34%.

Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Đảng bộ Thị xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khai thác tiềm năng, nguyên liệu sẵn có ở địa phương để đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, liên doanh, liên kết mở nhiều cơ sở sản xuất vật liệu, cơ khí, hàng xuất khẩu, mộc dân dụng,… Hướng dẫn tập thể, cá nhân đầu tư vốn, lao động, kỹ thuật, mở rộng sản xuất, khai thác tiềm năng, thế mạnh của Thị xã.

 Lĩnh vực lưu thông phân phối có chuyển biến theo hướng tích cực hơn; thị trường được khơi thông; lưu lượng hàng hóa trao đổi tăng lên và ngày càng phong phú hơn.

Trong công tác xây dựng cơ bản và quản lý đô thị, những năm 1986-1990, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã quan tâm chỉ đạo tập trung đầu tư cải tạo, xây dựng nhiều công trình kết cấu hạ tầng, làm cho bộ mặt đô thị đổi thay đáng kể.

Trong xây dựng và phát triển hệ thống đường giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội và quốc phòng-an ninh, được sự quan tâm của Trung ương, thực hiện phương hướng chỉ đạo của Tỉnh ủy: “Nâng cấp cải tạo là chính, xây dựng mới có trọng điểm, ưu tiên các tuyến đường trọng điểm”, công tác giải phóng mặt bằng phục vụ nâng cấp, cải tạo, làm mới nhiều tuyến đường được quan tâm, như: Tuyến quốc lộ 1A, hoàn thành nền đường, cống rãnh và rải nhựa đoạn Thị xã và đoạn Phan Chu Trinh-Hàm Rồng; xây dựng, sửa chữa tuyến Thị xã Thanh Hóa-Sao Vàng; tu bổ, nâng cấp (trải đá, láng nhựa) một số đoạn đường xấu tuyến Thị xã Thanh Hóa-Mục Sơn-Đồng Tâm-Na Mèo; thi công tuyến đường Thị xã Thanh Hóa- Thị xã Sầm Sơn; cán cấp phối, sửa chữa mặt đường... tuyến Thị xã Thanh Hóa - Kiểu...

Tiếp tục xây dựng hệ thống thoát nước và cấp nước đô thị, mạng lưới điện vùng nội thị. Nhiều công trình hạ tầng, nhà ở và trụ sở kiên cố được xây dựng; lĩnh vực xây dựng cơ bản từng bước gắn với quy hoạch đô thị. Nhà ở của các khu dân cư được định hướng và quy hoạch cụ thể. Nhiều hộ gia đình kinh tế phát triển đã xây dựng các khu nhà cao tầng, góp phần đổi mới bộ mặt đô thị. 

Bên cạnh nguồn vốn đầu tư của Trung ương, của Tỉnh, Thị xã đã huy động được sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc cải tạo đường giao thông, xây dựng nhà văn hóa, công viên ... làm cho Thị xã đẹp hơn và khang trang hơn.

Sự nghiệp văn hóa xã hội từng bước đổi mới. Được sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân Thị xã, lĩnh vực giáo dục của Thị xã  có nhiều chuyển biến tích cực trong thời kỳ đổi mới, nhiều năm liền đạt lá cờ đầu toàn tỉnh. Cùng với phát triển giáo dục phổ thông, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức vận động nhân dân Thị xã phát triển giáo dục bổ túc văn hóa xóa mù chữ, tiến tới mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học.

Mạng lưới trường lớp được điều chỉnh theo quy mô hợp lý. Số lượng học sinh năm học 1987-1988 tăng hơn 14% so với năm học 1986-1987.

Nhờ cơ sở vật chất trường lớp được quan tâm cải tạo, xây dựng mới, số phòng học tăng nhanh, nên Thị xã đã giảm được tình trạng học "ca ba"; chỉ còn 28/180 lớp học “ca ba”. Chất lượng dạy và học được duy trì. Hiệu quả của lớp chuyên, lớp chọn được nâng cao. Thị xã trở thành đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh trong các kỳ thi giáo viên, học sinh giỏi tuyến tỉnh và quốc gia, có em đạt giải quốc tế.

Tháng 1-1990, Thị xã Thanh Hóa, đơn vị đầu tiên của tỉnh được Bộ Giáo dục-Đào tạo công nhận đã phổ cập tiểu học và xóa mù chữ. Các phường Ngọc Trạo, Ba Đình, Hàm Rồng là những đơn vị có thành tích xuất sắc về phổ cập tiểu học và xóa mù chữ.

Hoạt động y tế chuyển biến theo cơ chế mới. Việc chăm lo sức khỏe ban đầu cho nhân dân có tiến bộ đáng kể, kịp thời phòng dịch và dập tắt các bệnh dịch nguy hiểm, mở rộng tiêm chủng 6 loại vác xin cho các cháu trong độ tuổi. Sản xuất và kinh doanh thuốc chữa bệnh, dịch vụ y tế phát triển tạo thuận lợi khám và chữa bệnh cho nhân dân. Toàn ngành đã triển khai chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, góp phần quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Thị xã xuống 1,4%, đạt mục tiêu Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIV đề ra.

Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Thị ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, lấy xây dựng “gia đình văn hóa” làm nền tảng, với các tiêu chí: Gia đình hòa thuận, ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo; làm kinh tế, tổ chức đời sống và thực hiện kế hoạch hóa gia đình tốt; xây dựng sự đoàn kết, tương thân tương ái trong khu dân cư, giữ gìn an ninh chính trị, trạt tự an toàn xã hội; gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Công tác văn hóa thông tin tuyên truyền đã tập trung vào việc phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng, vào các nhiệm vụ trung tâm của Thị xã; xây dựng nếp sống mới, động viên cổ vũ điển hình tiên tiến và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. Hoạt động văn hóa được quan tâm đầu tư. Một số công trình văn hóa, phúc lợi công cộng, di tích lịch sử được phục hồi, tôn tạo và xây dựng.

Hoạt động thể dục thể thao đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi; các môn bóng đá, bóng bàn, cơ vua, thể dục nhịp điệu, võ thuật ... phát triển mạnh trong thanh thiếu niên, học sinh và cán bộ, công nhân viên chức.

Thực hiện nghiêm túc các chính sách xã hội, quan tâm kịp thời đến các đối tượng khó khăn. Đảng bộ và chính quyền Thị xã đã thành lập và tạo điều kiện sinh hoạt cho Câu lạc bộ Hàm Rồng, các câu lạc bộ phường, xã, giúp đỡ thành lập Hội người mù... Đồng thời, quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng, các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa có tác dụng thúc đẩy phong trào sản xuất, tiết kiệm và đấu tranh chống tiêu cực.

Nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân hết sức quan tâm.

Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 15-4-1989 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa về công tác quốc phòng-an ninh, với những nội dung quan trọng chủ yếu: Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch và sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược lớn... Phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tích cực chống trốn đi nước ngoài, chống xâm nhập, củng cố các phương án phản gián theo tuyến, theo địa bàn; đấu tranh chống tình báo, gián điệp và các đối tượng phản động phá hoại kinh tế, văn hóa, tư tưởng, không để xảy ra gây rối, bạo loạn. Kiên quyết đẩy lùi tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội.

Các ngành nội chính bước đầu đổi mới phương thức hoạt động, nhất là ở các xã, phường, đảm bảo giao ban tuần đúng định kỳ. Trong công tác an ninh, thực hiện Chỉ thị số 07 của Ban Thường vụ Thị ủy, ngành Công an đã tập trung lực lượng, truy quét 48 ổ, nhóm lưu manh chuyên nghiệp, tăng cường tuần tra kiểm soát trên các trục đường giao thông chính. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì, phát triển. Công tác thanh tra, kiểm sát, xét xử được chú ý và có sự phối hợp chặt chẽ hơn. Việc phát hiện, điều tra khởi tố và xử lý nhiều vụ, việc đã có tác dụng góp phần ngăn chặn những hành vi phạm tội.

Trong công tác quân sự địa phương, cuối năm 1988 đã xây dựng và củng cố 155 đơn vị dân quân. Qua huấn luyện, tuyển quân, nhiều đơn vị đạt danh hiệu Đơn vị quyết thắng. Các cấp ủy, chính quyền đã chỉ đạo, rà soát, bổ sung các phương án phòng thủ, triển khai phương án chống gây rối, bạo loạn. Đến cuối năm 1990 đã hoàn thành hai cuộc diễn tập A2TH 89 và A2TH 91. Hàng năm đảm bảo 100% chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ.

Quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV đối với Đảng bộ và nhân dân Thị xã bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, còn đan xen nhiều khó khăn mới.

Tình hình khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thị xã và đời sống chính trị - xã hội. Trong nước, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn gay gắt.

Đứng trước tình hình mới, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, tháng 8-1989 về công tác xây dựng Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 24 về "Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên". Thực hiện Nghị quyết, Tỉnh ủy đã phát động toàn Đảng bộ tiến hành cuộc vận động củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thị ủy quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 24-NQ/TU, ngày 10-7-1990 về thực hiện Cuộc vận động “Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên”, với những nội dung quan trọng:

- Làm trong sạch đội ngũ Đảng, giáo dục, giác ngộ nâng cao trách nhiệm của đảng viên; đấu tranh kiên quyết, không để trong Đảng có những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội, gây mất đoàn kết và những phần tử làm trái nghị quyết của Đảng.

- Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở đảng, làm cho mỗi tổ chức đảng phải thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong xã hội và luôn thể hiện vai trò lãnh đạo quần chúng, đi tiên phong trong công cuộc đổi mới. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, đồng thời gắn với củng cố chính quyền, đoàn thể quần chúng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức này. Đổi mới sinh hoạt và hoạt động của đội ngũ đảng viên, bảo đảm thực sự là người lãnh đạo, nêu gương trước quần chúng.

Sau cuộc vận động thực hiện Nghị quyết 24 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, kết hợp với việc thực hiện Quyết định 240/HĐBT về phòng, chống tham nhũng và Chỉ thị 09 của Ủy ban nhân dân Thị xã về phát triển các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, vận tải và xây dựng, đã có 8.133/8.547 đảng viên tham gia quán triệt Nghị quyết (chiếm 95%) và 6.966 đảng viên dự phân loại (chiếm 76%).

Công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng được tiến hành nghiêm túc, đúng quy định của Điều lệ Đảng. Trong 2 năm (1989-1990), thông qua công tác kiểm tra, đã xử lý kỷ luật 501 đảng viên với các hình thức khác nhau, trong đó khai trừ và đưa ra khỏi Đảng chiếm tỷ lệ 2%.

Sau cuộc vận động nâng cao chất lượng hoạt động của các Đảng bộ, Chi bộ được củng cố thêm một bước, năng lực và uy tín cấp ủy được nâng lên, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chuyển biến.

Đến cuối năm 1990, Ban Thường vụ Thị ủy tiến hành củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị kinh tế quốc doanh phù hợp với việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh. Cơ sở Đảng ở các Đảng bộ phường, xã được kiện toàn theo địa bàn khối phố, thôn, xóm. Công tác tổ chức, cán bộ được đổi mới theo hướng tinh giản thông qua hiệu quả công tác để nâng cao chất lượng cấp ủy. Từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo của Ban Thường vụ Thị ủy với kết hợp đổi mới phương thức quản lý điều hành của Ủy ban nhân dân Thị xã.

Tuy nhiên, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, chỉ đạo ở một bộ phận đảng viên, cán bộ lãnh đạo chưa ngang tầm nhiệm vụ mới. Việc đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế chậm. Trong quá trình đổi mới, một số cấp ủy buông lỏng vai trò lãnh đạo, nhất là ở những đơn vị kinh tế... Số lượng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh chiếm tỷ lệ thấp, số cơ sở Đảng yếu kém còn cao. Đến năm 1989, trong tổng số 128 cơ sở  Đảng, có 21 cơ sở Đảng vững mạnh, 29 cơ sở yếu kém; năm 1990 trong tổng số 132 cơ sở  Đảng, có 15 cơ sở Đảng vững mạnh…

Công tác phát triển Đảng được coi trọng, quy trình bồi dưỡng xét kết nạp Đảng được cải tiến một bước. Trong nhiệm kỳ, đã kết nạp 354 đảng viên mới ở 76/132 cơ sở Đảng, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, chất lượng.

Trong xây dựng và củng cố chính quyền, Đảng bộ Thị xã đã lãnh đạo tổ chức thực hiện thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân Thị xã, xã, phường (4-1987); đã có 70.225/70.848 cử tri đi bỏ phiếu (chiếm tỷ lệ 94,12%). Sau bầu cử đội ngũ cán bộ được đổi mới, tăng thêm cán bộ trẻ có năng lực và được đào tạo qua trường lớp; bộ máy chính quyền cấp thị và cơ sở được kiện toàn một bước.

Mặt trận Tổ quốc được củng cố, kiện toàn một bước. Đến năm 1989, ở các địa bàn dân cư, đã thành lập được các Ban Mặt trận, thành viên gồm đại diện cấp ủy, đoàn thể, quần chúng ở đội sản xuất, khối phố và những người có trách nhiệm, nhiệt tình, hăng hái và có kinh nghiệm làm tốt công tác vận động quần chúng, hình thành mạng lưới làm công tác mặt trận rộng khắp, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, phấn đấu thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

Đoàn thanh niên đã có nhiều sinh hoạt chính trị, mở các cuộc thi tìm hiểu về Bác Hồ, về Đảng, về truyền thống cách mạng, đổi mới nhận thức cho đoàn viên, thanh niên. Trên cơ sở đổi mới nhận thức về tư tưởng và tổ chức, Thị đoàn đã chỉ đạo tổ chức Đoàn các cấp đẩy mạnh phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” trên các lĩnh vực: Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp: tổ chức Đoàn thường xuyên duy trì phong trào “Luyện tay nghề, thi thợ giỏi, phát động thi đua tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, thi đua hoàn thành kế hoạch, tham gia quản lý xí nghiệp, chống các hiện tượng tiêu cực. Trong văn hóa xã hội, đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới; thi đua “dạy tốt học tốt” trong ngành giáo dục; tích cực tham gia phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; xung kích trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tham gia các đội xung kích an ninh và thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự. Thực hiện cuộc vận động “Xây dựng cơ sở Đoàn vững mạnh”. Thị Đoàn và Đoàn phường đã tiến hành khảo sát, phân loại chi đoàn và đề ra các giải pháp xây dựng cơ sở yếu kém thành cơ sở vững mạnh. Tổ chức Đoàn đã mạnh dạn đối thoại trực tiếp với cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở đề đạt nguyện vọng chính đáng của đoàn viên thanh niên; giới thiệu nhiều đoàn viên ưu tú để các cấp ủy bồi dưỡng, kết nạp đảng.

Trong công tác thiếu niên nhi đồng, tổ chức Đoàn, Đội đã tổ chức cho đông đảo các em tiếp tục triển khai phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ”, “Hành quân theo bước chân những người anh hùng”, đồng thời phát động thực hiện nhiều cuộc vận động mới như: “Em yêu khoa học”, “Áo lụa tặng bà”, “Bát hương cho nghĩa trang liệt sĩ”, “Em yêu đường sắt quê em”,... qua đó giáo dục và cổ vũ hàng ngàn thiếu niên nhi đồng Thị xã phấn đấu đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”, góp phần tích cực vào các hoạt động xã hội của địa phương.

Hội phụ nữ Thị xã có nhiều hoạt động thiết thực, thu hút đông đảo phụ nữ  tham gia thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Hội và của địa phương. Đặc biệt, từ sau năm 1986, hưởng ứng cuộc vận động “Ngày tiết kiệm của phụ nữ nghèo” do Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức, phụ nữ Thị xã đã tích cực tham gia ủng hộ bằng tiền và hiện vật, tương trợ, giúp nhau giải quyết những khó khăn trong sản xuất và đời sống.

Sau khi Hội Cựu chiến binh tỉnh Thanh Hóa được thành lập (6-1990), thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TU, ngày 31-7-1990 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc thành lập Hội Cựu chiến binh cấp huyện, thị và cơ sở, Hội Cựu chiến binh Thị xã được thành lập. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cựu chiến binh trên địa bàn. Ngay sau khi thành lập, Hội tích cực phát triển các chi hội, phát triển hội viên, đưa sinh hoạt đi vào nền nếp, có những đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới quê hương.

Tình hình mới đòi hỏi phải đổi mới công tác quần chúng và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Tháng 4-1990, Hội nghị Trung ương 8 khóa VI ra Nghị quyết về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Trên tinh thần đó các cấp ủy đã quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các tổ chức quần chúng; củng cố tổ chức, cải tiến nền nếp sinh hoạt và đổi mới hình thức hoạt động. Nhờ vậy, cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ được tăng cường.

Sau hơn 4 năm đưa Nghị quyết Đại hội VI của Đảng vào cuộc sống, Thị xã đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, tuy nhiên, so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII và XIV đặt ra thì kết quả đạt được còn thấp: tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, chưa ổn định và gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ người lao động thiếu việc làm còn cao, trật tự đô thị có mặt bị buông lỏng. Vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của chính quyền nhiều lúc chưa phát huy đầy đủ.

Mặc dù còn không ít thử thách, hạn chế, khó khăn, nhưng có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đổi mới và năng lực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng bộ Thị xã. Thành tựu đó đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biểu dương nhân dịp Đồng chí thăm Thị xã và phường Nam Ngạn trong chuyến thăm và làm việc tại Thanh Hóa từ ngày 1 đến 3-10-1990. Những cơ sở, tiền đề quan trọng đạt được củng cố thêm niềm tin vững chắc để Đảng bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới trong chặng đường tiếp theo.

II. ĐẨY MẠNH  SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1991-2000)

Trong 5 năm đầu cùng cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, kinh tế - xã hội của Thị xã  từng bước chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, Thị xã vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thị xã phải nỗ lực không ngừng nhằm khắc phục mọi khó khăn, từng bước phát triển vững chắc về kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, tháng 4-1991 Đảng bộ Thị xã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XV, nhiệm kỳ 1991-1995. Tham dự Đại hội có 303 đại biểu đại diện cho 8.578 đảng viên ở 134 cơ sở Đảng trực thuộc. Đồng chí Lê Huy Ngọ, Bí thư Tỉnh ủy dự và chỉ đạo Đại hội.

Đại hội đánh giá cao những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Thị xã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội và chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục; những khó khăn, thử thách phải vượt qua. Đại hội đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội những năm 1991 – 1995: "Tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới; đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định và nâng dần mức sống cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, lập lại kỷ cương; từng bước xây dựng Thị xã "giàu về kinh tế, vững về quốc phòng - an ninh, đẹp về nếp sống".

Đại hội xác định cơ cấu kinh tế của Thị xã là: Công nghiệp (bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp), thương nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Cơ cấu đó được đan kết vào nhau trong các thành phần kinh tế.

Căn cứ định hướng chung đó, Thị xã tiếp tục khai thác thế mạnh trong mở rộng liên kết, liên doanh, tranh thủ sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự hỗ trợ từ bên ngoài để vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần, vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh".

Đại hội thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia đóng góp vào các văn kiện dự thảo của Trung ương, báo cáo tổng hợp các ý kiến tham gia dự thảo báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII và bầu Đoàn Đại biểu của Thị xã đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, gồm 27 đồng chí, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã khóa XV gồm 35 đồng chí. Ban Chấp hành đã bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Thịnh được bầu làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm và đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIII diễn ra từ ngày 24 đến 27-7-1991 đã đánh giá những kết quả đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của tỉnh trong 5 năm 1991-1995: “Phát huy kết quả bước đầu đạt được, khắc phục các mặt yếu kém, tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, giữ vững thế ổn định và phát triển về chính trị và kinh tế. Tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện cơ chế quản lý, tập trung sức phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, tạo đà tiến lên trong giai đoạn tiếp theo”.

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII là cơ sở và định hướng để Đảng bộ và nhân dân Thị xã vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương. Quá trình Đảng bộ và nhân dân Thị xã quán triệt và thực hiện các nghị quyết của Đảng luôn nhận được sự quan tâm động viên, khích lệ lớn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Từ ngày 5 đến ngày 9 - 6 -1992, đồng chí Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trong chuyến thăm và làm việc tại Tỉnh Thanh Hóa đã dành thời gian thăm và làm việc tại Thị xã Thanh Hóa. Tiếp đó, từ ngày 18 đến 23-2-1993, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm và làm việc tại Tỉnh Thanh Hóa đã thăm và làm việc tại Thị xã, thăm Câu lạc bộ Hàm Rồng. Những cuộc thăm hỏi, tiếp xúc của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tiếp thêm nguồn lực cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV và của Tỉnh ủy được Thị ủy quan tâm. Ngày 7-1-1992, Thị ủy ra Nghị quyết về nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1992.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV và các nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội hằng năm, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đã đẩy mạnh các mặt hoạt động, đưa phong trào của Thị xã lên một bước mới.

Trong hơn hai năm (1991-1993), sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 25%; nông nghiệp, lương thực tăng 9%; chăn nuôi có điều kiện phát triển; nhiều hộ nông dân đã nghiên cứu đổi mới cơ cấu cây trồng, rau trái vụ, hoa cây cảnh...

Lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng nhà ở, kinh tế quốc doanh phát triển nhanh, một số cơ sở công nghệ, kinh tế cá thể và tư nhân cũng được quan tâm phát triển.

Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, làm giàu đời sống văn hóa tinh thần của người dân Thị xã.

Các thành phần kinh tế có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm mạnh.

Chính sách xã hội được quan tâm; quốc phòng-an ninh đảm bảo. Bộ máy chính quyền tiếp tục được xây dựng, củng cố vững chắc và thể hiện được năng lực chỉ đạo, điều hành trong chuyển đổi cơ chế; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được củng cố vững chắc. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Cử tri Thị xã đã nêu cao ý thức chính trị trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, trong xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước các cấp.

Ngày 19-7-1992 cử tri Thị xã đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX. Ngày 20-11-1994 cử tri Thành phố nô nức đi bỏ phiếu bầu đại đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh khóa XIII, Hội đồng nhân dân Thị xã khóa XVII và Hội đồng nhân dân phường, xã nhiệm kỳ 1994-1995.

Căn cứ vào hướng dẫn của Trung ương và của Tỉnh ủy, ngày 25-3-1994, tại Hội trường lớn của Thị ủy, Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa tổ chức Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV.

 Hội nghị có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV nửa nhiệm kỳ, đồng thời hoạch định những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện trong thời gian tiếp theo. Đồng chí Lê Văn Tu, Bí thư Tỉnh ủy dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo Hội nghị.

Trong những năm đầu thực hiện đổi mới toàn diện, Đảng bộ Thị xã đã thực hiện có kết quả các định hướng, mục tiêu và giải pháp sát với tình hình thực tế của địa phương. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội có chuyển biến mới. Hệ thống chính trị được củng cố và kiện toàn, đáp ứng yêu cầu đổi mới. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, mức tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của đô thị tỉnh lỵ.

Quán triệt chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở thực tiễn công cuộc đổi mới ở Thị xã, những thành tựu đạt được cũng như khó khăn, hạn chế, Hội nghị đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát về kinh tế, đó là: "Phát triển mạnh kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thương nghiệp - dịch vụ; chuyển mạnh kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, mở rộng kinh tế đối ngoại".

Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Hội nghị nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới phương thức và phong cách lãnh đạo của cấp  ủy  Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, các đoàn thể nhân dân, phát huy tác phong sâu sát cơ sở, tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của chính quyền và các đoàn thể và cơ sở, coi trọng việc chỉ đạo điểm và xây dựng các mô hình tiên tiến để nhân ra diện rộng. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Củng cố, kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội nghị đã bầu bổ sung 8 ủy viên Ban Chấp hành để thay cho 5 đồng chí chuyển công tác theo sự điều động của Tỉnh ủy.

Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ Thị xã đánh dấu bước tiến của công cuộc đổi mới, chuẩn bị điều kiện cần thiết để Đảng bộ và nhân dân Thị xã bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Giữa thời điểm Đảng bộ và nhân dân Thị xã đang nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV, một vinh dự lớn đến với Đảng bộ, quân và dân Thành phố Thanh Hóa: ngày 1-5-1994, Chính phủ đã ra Nghị định số 37/CP thành lập Thành phố Thanh Hóa thuộc Tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở các đơn vị hành chính, diện tích, dân số và địa giới hành chính của Thị xã Thanh Hóa. Đây là một bước ngoặt, đánh dấu và ghi nhận quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của đô thị tỉnh lỵ, qua các thời kỳ lịch sử.  Ngày 4-11-1994, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh lỵ Thanh Hóa và công bố quyết định thành lập Thành phố Thanh Hóa trực thuộc Tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 30-8-1995, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 557 QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dâncho nhân dân và lực lượng vũ trang Thành phố Thanh Hóa, vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Đúng dịp Kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945-1995), Đảng bộ và nhân dân Thành phố đón nhận Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Lê Văn Tu, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tỉnh được Chủ tịch Nước ủy quyền trao tặng danh hiệu cao quý cho Đảng bộ và nhân dân Thành phố.

Phần thưởng cao quý đó trở thành nguồn động lực mạnh mẽ đối với Đảng bộ và quân, dân Thành phố trong các phong trào thi đua nhằm hiện thực hóa thắng lợi đường lối đổi mới trên quê hương.

Đến năm 1995, nhiều chỉ tiêu quan trọng, chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XV, Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV và các nghị quyết của Đảng bộ hằng năm đề ra đã được thực hiện đạt kết quả cao. Thành phố Thanh Hóa đã vượt qua thời kỳ khó khăn, tiếp tục ổn định và có bước phát triển mới.

Cơ cấu kinh tế trên địa bàn có sự chuyển dịch đúng hướng: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 48,09% năm 1990 lên 57,4% năm 1995; thương mại - dịch vụ từ 42,69 % giảm xuống 36,04%; nông - lâm nghiệp giảm từ 9,12% còn 6,41%.

Vào những năm đầu thời kỳ đổi mới, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Thị xã bộc lộ nhiều hạn chế, sản xuất kinh doanh kém phát triển. Để khắc phục tình trạng này, Thị ủy đã huy động một số cán bộ ở cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tập trung điều tra, nghiên cứu tình hình, tìm nguyên nhân và đề xuất các biện pháp giải quyết. Trên cơ sở đó, ngày 6-12-1991, Ủy ban nhân dân Thị xã đã ban hành Quy định 36/QĐ-UBTX Hướng dẫn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải đổi mới hợp tác xã, đổi mới quản lý sản xuất kinh doanh.

Về công nghiệp, nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh mới ra đời, giải quyết được việc làm cho nhiều lao động. Giá trị tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng trưởng bình quân trong 5 năm (1991-1995) là 11,8%, trong đó ngành Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tăng bình quân 24,85%. Một số ngành kinh tế quan trọng như chế biến lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, cơ khí sửa chữa, may mặc, vận tải, xây dựng … có thêm nhiều mặt hàng mới; tốc độ tăng trưởng khá.

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển năng động, đến cuối năm 1995 trên địa bàn có 74 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập. Quy mô sản xuất kinh doanh tuy chưa lớn, nhưng đã thu hút một nguồn lao động đáng kể cho Thành phố.

Hoạt động thương nghiệp ngày càng sôi động, công tác quản lý thị trường ở một số khu vực được sắp xếp lại, đi vào ổn định, nền nếp hơn. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh từng bước vươn lên thích ứng hơn với cơ chế mới. Thương nghiệp tư nhân phát triển mạnh về quy mô, cùng với thương nghiệp quốc doanh làm tốt chức năng cung ứng hàng hóa, vật tư cho các ngành sản xuất và nhu cầu sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân.

Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng và  phong phú, như dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, tắm giặt... đáp ứng yêu cầu xã hội và góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên địa bàn.

Về nông nghiệp, đã chú ý chuyển đổi cơ cấu cây, con. Diện tích trồng lúa kém hiệu quả được định hướng chuyển sang trồng và nuôi các loại cây, con có hiệu quả kinh tế cao ngày càng nhiều. Một số đơn vị đã phát triển các loại hình và ngành nghề sản xuất mới, như: nuôi cá xen trồng lúa ở Phú Sơn; nuôi gà công nghiệp ở Hàm Rồng; nuôi cá trê lai ở Quảng Thắng... Chăn nuôi phát triển, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 48,7% giai đoạn 1986-1990 lên 51,2% trong những năm 1991-1995.

Nhìn chung, nông nghiệp bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa, giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1995 đạt 9 tỷ đồng, tăng 8,2% so với năm 1994, đưa giá trị tăng bình quân trong 5 năm lên 9,16%.

Trong hoạt động kinh tế xuất nhập khẩu, vẫn duy trì được một số mặt hàng truyền thống, phát triển thêm một số mặt hàng mới, như: nấm mỡ của Công ty ăn uống; rượu của Công ty chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu; quặng Crôm của Xí nghiệp Sứ Thanh Hóa...

Sự phát triển của Thành phố trong tiến trình đổi mới, nhất là kể từ khi được nâng cấp trở thành Thành phố thuộc tỉnh, quy hoạch Thành phố dần dần được mở rộng.

Đến tháng 12-1995, Thành phố có 11 phường: Hàm Rồng, Đông Thọ, Trường Thi, Nam Ngạn, Điện Biên, Phú Sơn, Ba Đình, Ngọc Trạo, Đông Vệ, Đông Sơn, Lam Sơn và 6 xã: Quảng Thắng, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Thành, Đông Cương, Quảng Hưng.

Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh. Hầu hết các tuyến đường chính trong cả nội và ngoại thành được nâng cấp, như: Đại lộ Lê Lợi, đường Nguyễn Trãi, Dương Đình Nghệ, Phan Chu Trinh... Hệ thống thoát nước được bổ sung, như: Hồ Thành, kênh Tân Sơn, Đại lộ Lê Lợi... Mạng lưới bưu chính viễn thông được mở rộng và hiện đại hóa. Các tụ điểm kinh doanh, các chợ khu vực, như: chợ Điện Biên, Tây Thành, Nam Thành, Đông Thành, Trường Thi; một số công trình văn hóa, như: Nhà văn hóa thiếu nhi, công viên Lam Sơn, hàng chục ngôi trường 2 tầng được đưa vào sử dụng. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng như đẩy mạnh phong trào trồng cây, trồng cây xanh đường phố. Các dịch vụ vệ sinh công cộng, có nhiều chuyển biến tốt, công tác quản lý quy hoạch và xây dựng cơ bản, xử lý lấn chiếm đất đai, vi phạm lòng đường, vỉa hè... được chấn chỉnh, xử lý kịp thời. Hoàn thành việc đặt tên đường phố và đánh lại số nhà. Kết quả trên làm cho bộ mặt Thành phố thay đổi nhanh chóng.

Sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, giữ vững kỷ cương, nền nếp dạy và học, duy trì kết quả xóa mù chữ và phổ cập cấp I. Giáo dục mũi nhọn, trường chuyên đạt kết quả tốt, số học sinh giỏi từ cấp Thành phố trở lên mỗi năm một tăng. Các trường dạy nghề ở khu vực công lập và dân lập được mở rộng, ngày càng thu hút nhiều đối tượng có nhu cầu theo học.

Mạng lưới y tế từ cơ sở được củng cố, trạm xá phường, xã được nâng cấp, thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, tích cực phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng. Công tác truyền thông dân số và sinh đẻ có kế hoạch được đẩy mạnh, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,4% năm 1991 xuống 1,37% năm 1995.

Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa được đẩy mạnh. Đến năm 1995 có 70% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Năm 1995 các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao nhân các ngày kỷ niệm lớn được tổ chức từ cơ sở lên Thành phố rất sôi nổi, chất lượng được nâng lên, có hiệu quả thiết thực. Việc tổ chức cưới xin, ma chay dần đi vào nền nếp, giảm được tệ xa hoa, lãng phí.

Chính sách xã hội được quan tâm. Ngày 16 - 12 - 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập hệ thống Ngân hàng phục vụ người nghèo tỉnh Thanh Hóa. Thực hiện quyết định, Ngân hàng phục vụ người nghèo Thành phố đã được thành lập, do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Giám đốc. Việc ra đời Ngân hàng người nghèo tạo ra những điều kiện cơ bản cho một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo đói, được tiếp cận nguồn vốn phục vụ phát triển sản xuất, ổn định đời sống, phấn đấu thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.

Những năm 1990-1993, Mặt trận Tổ quốc tích cực thực hiện phong trào tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, vận động nhân dân đóng góp, xây dựng, tu bổ nghĩa trang và bia tưởng niệm liệt sĩ.

Trong 5 năm, thông qua đẩy mạnh phong trào "đền ơn đáp nghĩa", đã xây dựng mới 5 ngôi nhà tình nghĩa; phong trào xây dựng "quỹ tình nghĩa", "quỹ nhân đạo" ngày càng mở rộng. Nhiều tổ chức kinh tế, đoàn thể đảm nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Thực hiện có hiệu quả phong trào xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ khá và giàu chiếm 56%, không còn hộ đói.

Trong công tác trật tự trị an, tiếp tục thực hiện Thông tri số 05-TT/LN ngày 2-6-1990 của ngành Nội chính hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Thị ủy và sự phối kết hợp của các ngành, các cấp, sự giúp đỡ của nhân dân, cuộc vận động người phạm tội ra tự thú trên địa bàn đạt kết quả tốt. Trong cuộc vận động này, Công an Thị xã đã được tỉnh khen thưởng vì có nhiều thành tích.

Tháng 7-1991, đã tổ chức cuộc diễn tập phòng, chống bạo loạn và gây rối trên quy mô hai cấp: cấp Thị xã và cấp phường, xã (với sự tham quan rút kinh nghiệm của 10 huyện trong tỉnh) đạt kết quả tốt.

Việc triển khai có hiệu quả Chỉ thị 406/TTg của Thủ tướng Chính phủ về cấm buôn bán và đốt pháo nổ; các Nghị định 36/CP, 39/CP 40/CP của Chính phủ về trật tự an toàn giao thông đô thị, giao thông đường sắt, đường thủy nội địa; Nghị định 87/CP của Chính phủ về quản lý các hoạt động và dịch vụ văn hóa đã góp phần lập lại kỷ cương trên địa bàn Thành phố; công tác đấu tranh chống tội phạm kinh tế, chống tham nhũng, buôn lậu có chuyển biến tích cực. Mối quan hệ giữa các ngành nội chính ngày càng chặt chẽ. Số vụ vi phạm và tội phạm giảm trung bình 32%/năm, số vụ trọng án giảm trung bình 16%. Công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu. Số quân đào ngũ hàng năm giảm, có nhiều biện pháp tích cực để giải quyết số quân chưa trở lại đơn vị hoặc đào ngũ.

Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ luôn quan tâm. Hệ thống tổ chức cơ sở Đảng từng bước được sắp xếp lại cho phù hợp với quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị kinh tế và điều chỉnh quy mô phố, xóm. Số chi bộ, đảng bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh từ 19% năm 1991 tăng lên 44% năm 1995.

Đảng bộ đã bám sát các nhiệm vụ chính trị trước mắt, các quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, nội dung các nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ, để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên. Do vậy, ý thức Đảng, tính chiến đấu, vai trò tiền phong gương mẫu của đại bộ phận đảng viên được nâng lên.

Từ năm 1991 đến năm 1995 kết nạp được 503 đảng viên mới. Bên cạnh việc bổ sung lực lượng cho Đảng, việc xem xét và xử lý kỷ luật các trường hợp đảng viên sai phạm được Ủy ban kiểm tra Đảng thực hiện kịp thời, đúng mức. Trong 5 năm đã xử lý 682 đảng viên với các hình thức kỷ luật. Do đó, chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng lên. Đảng viên loại 1 tăng từ 67,8% năm 1991 lên 84,24% năm 1995; đảng viên loại 3 và 4 giảm từ 3,7% năm 1991 xuống còn 0,97% năm 1995.

Công tác xây dựng, củng cố chính quyền thường xuyên được quan tâm. Vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo luật định. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ra Nghị định số 37/CP thành lập Thành phố Thanh Hóa,vai trò, chức năng của bộ máy chính quyền đòi hỏi phải cao hơn, hoạt động Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân  từ Thành phố đến phường, xã đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, như: Hội Cựu chiến binh; Hội Phụ nữ; Liên đoàn Lao động; Hội Nông dân; Đoàn Thanh niên… có nhiều hình thức hoạt động thiết thực, cụ thể, phát huy sức mạnh của tổ chức và của mỗi thành viên, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Nhờ vậy, đã động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đơn vị. Nhiều đơn vị được công nhận là đơn vị có phong trào dẫn đầu của Tỉnh.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng bộ Thành phố trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc đổi mới cũng còn những tồn tại đáng kể.

Kinh tế hàng hóa chưa phát triển mạnh và chưa tương xứng với tiềm năng; sản phẩm hàng hóa còn ít, chất lượng, giá thành, mẫu mã còn ít sức cạnh tranh trên thị trường, các mặt hàng truyền thống có triển vọng bị mai một. Sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp chuyển biến chưa mạnh. Tư tưởng sản xuất nhỏ, bảo thủ, trì trệ mới được khắc phục một bước; chưa phát huy được tiềm năng kinh tế của vùng ven đô và vị trí tỉnh  lỵ. Trong công tác tài chính, vẫn còn tình trạng ngân sách thất thu, nhất là thuế. Việc xây dựng cơ bản còn nhiều lãng phí; tình trạng mua bán nhà đất diễn ra phức tạp. Trong công tác xây dựng Đảng, một số cơ sở Đảng yếu kém chậm được khắc phục, vai trò tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được phát huy đầy đủ. Chức năng quản lý nhà nước ở một số tổ chức, nhất là ở phường, xã có lúc, có nơi chưa được thể hiện đầy đủ, có hiệu lực cao.

Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn đó đã được Ban Chấp hành Đảng bộ thẳng thắn chỉ ra, đó là: "Do sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ chưa ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng. Điều kiện thực hiện và năng lực điều hành của các cấp chính quyền từ Thành phố đến cơ sở có lúc chưa đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân. Đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý giỏi…".

Mười năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986-1995), trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ Thành phố đã trải qua nhiều khó khăn gay gắt đan xen thuận lợi, thời cơ. Phát huy truyền thống của vùng đất có bề dày lịch sử hơn 190 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ Thành phố đã xác định rõ và đúng đắn phương hướng, nhiệm vụ để lãnh đạo phong trào cách mạng giành được nhiều thành tựu đáng tự hào, nổi bật là: Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ khó khăn, tiếp tục ổn định và có bước phát triển; cơ cấu kinh tế công nghiệp (bao gồm tiểu thủ công nghiệp) - thương nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp ngày càng định hình rõ nét; các hoạt động văn hoá - xã hội khởi sắc; quốc phòng - an ninh được đảm bảo. Bộ mặt Thành phố có nhiều đổi thay. Thành phố đã tạo được bước chuyển biến quan trọng từ nhận thức đến tổ chức thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đô thị. Với những thành tích đạt được khá toàn diện về kinh tế-xã hội, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã tặng cán bộ và nhân dân Thị xã cờ "Đơn vị thi đua đổi mới xuất sắc".

Qua lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, đội ngũ cán bộ đảng viên trưởng thành nhiều về mọi mặt, phát triển cả về chất lượng và số lượng. Qua đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Thành phố đã nhận thức đầy đủ hơn vai trò của Thành phố là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Tỉnh, coi đó là động lực quan trọng để xây dựng và phát triển đô thị tỉnh lỵ. Chính nhờ sự phát triển đó mà Thị xã đã được Chính phủ quyết định nâng cấp lên Thành phố. Trong điều kiện, hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, nhất là về kinh tế, vốn đầu tư, những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân Thành phố đạt được trong chặng đường đầu của thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng là rất quan trọng, tạo ra những tiền đề cần thiết để cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thực hiện chủ trương của Đảng và kế hoạch của Tỉnh ủy về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp, sáng ngày 29-3-1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thanh Hoá lần thứ XVI, nhiệm kỳ 1996-2000, đã khai mạc trọng thể tại hội trường lớn của Thành uỷ. Dự Đại hội có 251 đại biểu thay mặt cho hơn 9.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Phát biểu ý kiến đánh giá về thành tựu 10 năm đổi mới, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ dự và chỉ đạo Đại hội đã khẳng định: "So với nhiều năm trước đây, bức tranh toàn cảnh về kinh tế - xã hội của Thành phố Thanh Hóa đã có những thay đổi rất đáng phấn khởi. Cùng với những thành tựu trên và sự kiện trọng đại, là Thành phố vừa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân sẽ là hành trang tinh thần hết sức quan trọng tạo ra thế và lực mới để Đảng bộ và nhân dân Thành phố vững bước trên con đường hoà nhập vào sự phát triển của đất nước và khu vực”.

Quán triệt tinh thần dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII sẽ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV, phát huy những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, Đại hội đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ chung của Thành phố từ năm 1996-2000 là: "Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trọng tâm là phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tập trung củng cố và xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, đảm bảo kỷ cương, công bằng xã hội, tiếp tục xây dựng Thành phố ngày càng giàu đẹp, văn minh…".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XVI gồm 35 uỷ viên. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ gồm 11 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm được bầu làm Bí thư Thành uỷ; đồng chí Nguyễn Đức Thắng làm Phó Bí thư Thường trực; đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV (từ ngày 7 đến 10-5-1996) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu những năm 1996-2000: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát huy tiềm năng của các vùng kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có chính sách khai thác vốn bên trong, thu hút vốn bên ngoài để phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng nhất là giao thông. Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động. Tăng cường tiềm lực quốc phòng-an ninh, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân. Tiếp tục cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền; củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt công tác tư tưởng, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, chống mọi biểu hiện bảo thủ, thỏa mãn, thụ động, trì trệ.

Sau Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV, trên cơ sở định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ 1996-2000, Thành ủy đã cụ thể hóa thành nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện trong từng năm, để các ngành, các đơn vị và các phường, xã phấn đấu hoàn thành.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI, nền kinh tế của Thành phố có bước phát triển rõ rệt. Đến năm 2000, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) tăng bình quân 13,4%/năm, gấp 1,9 lần so với bình quân chung của toàn tỉnh, hầu hết các ngành kinh tế đều có mức tăng trưởng khá.

Công nghiệp quốc doanh tiếp tục ổn định và phát triển cả về giá trị và quy mô, giá trị sản lượng công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12,9%/năm. Nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã khẳng định vị thế trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, năm 1999 có 30% số đơn vị làm ăn có lãi, thực hiện nộp ngân sách đầy đủ cho Nhà nước. Công nghiệp ngoài quốc doanh tiếp tục khởi sắc, năm 1999 giá trị sản lượng đạt 88 tỷ 150 triệu đồng (tăng 8,6% so với năm 1998).

Cuối năm 1999, trên địa bàn Thành phố đã hình thành khu công nghiệp Lễ Môn; thành lập 4 công ty cổ phần: Nước mắm Thanh Hương, Phân Lân Hàm Rồng, Vận tải hành khách và Sửa chữa ô tô 19-5.

Bên cạnh những sản phẩm công nghiệp-tiêu dùng truyền thống, đã hình thành những sản phẩm công nghiệp mới như Giầy Đông Thành. Dịch vụ thương mại phát triển; thành lập Công ty Cổ phần ăn uống Dạ Lan. Chợ Vườn Hoa (mới) được đưa vào sử dụng, hàng hoá phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; cấp mới 1.200 giấy phép kinh doanh. Công tác quản lý thị trường được thực hiện chặt chẽ, có 4.939 hộ được quản lý trong sổ bộ thuế. Đến năm 2000, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ đạt 9%/năm. Kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng,...

Sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có nhiều chuyển biến tích cực: tổng diện tích gieo trồng năm 1999 đạt 5.993 ha, tổng sản lượng quy thóc đạt 22.484,2 tấn (bằng 102,3% kế hoạch, tăng 10,6% so với năm 1998; năng suất đạt bình quân 45,14 tạ/1 ha). Tính đến năm 2000, nông nghiệp tăng 14,2%/năm. Thành phố đã tổng kết công tác sản xuất và phong trào sản xuất giỏi năm 1999. 

Tổng thu ngân sách năm 1999 đạt 33,68 tỷ đồng, chi ngân sách đã ưu tiên đầu tư cho xây dựng cơ bản (tổng chi ước đạt 30,5 tỷ đồng) trong đó chi cho xây dựng cơ bản 11 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách quý I-2000 đạt 8 tỷ 127 triệu đồng, vượt 21% kế hoạch, tăng 25% so với cùng kỳ.

Quá trình đô thị hóa được quan tâm theo hướng hiện đại hóa. Ngày 26-3-1997, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về xây dựng và phát triển Thành phố. Đây là nghị quyết quan trọng, thể hiện rõ những quan điểm, chủ trương lãnh đạo phát triển Thành phố trong thời kỳ mới. Hằng năm, Thường vụ Tỉnh ủy đều trực tiếp nghe Ban Thường vụ Thành ủy báo cáo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp phát triển của Thành phố, qua đó, cho ý kiến chỉ đạo thực hiện.

Quy hoạch chung xây dựng Thành phố đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở đó, Thành phố tập trung xây dựng và đẩy mạnh quy hoạch chi tiết các khu trung tâm, phía Nam khu trung tâm, khu du lịch Hàm Rồng; thực hiện quy hoạch các công trình trọng điểm. Hệ thống thoát nước nội thành đã được quy hoạch và trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt; tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch phường, xã;...

Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị, đến năm 2000, nhiều công trình trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, như: Quốc lộ 1A đoạn qua Thành phố, đường từ cầu Hoàng Long đến Quốc lộ 1A, đường 1B từ cầu Hoàng Long đến ngã tư trước trụ sở Công an Thành Phố, chợ Vườn Hoa, Nhà thi đấu thể thao, cầu Đông Hương, rải thảm nhựa 20 km đường nội thành; triển khai thực hiện dự án cấp nước Thanh Hoá - Sầm Sơn; xúc tiến quy hoạch và triển khai xây dựng các khu đô thị mới, xây dựng nhà ở để bán, có đủ hạ tầng kỹ thuật,… Xây dựng bãi chứa và xử lý rác thải mới Phú Sơn; xây dựng nghĩa trang Chợ Nhàng, xóa dần nghĩa địa ở các phường, xã.

Vấn đề phát triển đô thị và quản lý đô thị được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực chặt chẽ, khoa học hơn. Đẩy mạnh việc xây dựng các tuyến điện chiếu sáng, cây xanh, công viên, ngoài tuyến Quốc lộ 1A, còn thực hiện ở các Đại lộ Lê Lợi, Lê Hoàn, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Trãi, Lê Lai,… phát triển Thành phố theo hướng “Sáng, xanh, sạch, đẹp”. Thực hiện có kế hoạch và khoa học việc đặt tên đường phố, số nhà, khắc phục tình trạng “nhà không số, phố không tên”, xây dựng vỉa hè, hệ thống cống thoát nước cho các đường phố để “đường ra đường, hè ra hè”; chấn chỉnh việc xây dựng nhà ở các dãy phố, khắc phục tình trạng mất mỹ quan trong xây dựng,…

Đặc biệt, ngày 19-5-2000, đúng kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Tỉnh cùng với Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Thành phố tổ chức lễ khởi công xây dựng Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trung tâm Thành phố, nơi Người đã nói chuyện với đông đảo nhân dân Thành phố vào chiều tối ngày 20-2-1947. Công trình có diện tích 12.125m2, với 2 khu: Nơi dâng hương tưởng niệm Bác Hồ và nơi trưng bày hình ảnh, hiện vật Bác Hồ với Thanh Hoá và Thanh Hoá làm theo lời Bác. Tổng mức đầu tư (dự toán) là 9.464.000.000 đồng. Nhân sự kiện lịch sử quan trọng này, Mặt trận Tổ quốc Tỉnh đã phát động phong trào vận động nhân dân toàn tỉnh đóng góp tiền của, công sức xây dựng khu tưởng niệm Bác Hồ. Ngay sau lễ phát động, nhiều cơ quan, tập thể và cá nhân đã đóng góp hàng trăm triệu đồng, thể hiện tình cảm đặc biệt thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm thực hiện thắng lợi những di huấn của Người. Sau hơn một năm thi công, ngày 1-9-2001, công trình đã hoàn thành, đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thành phố và Tỉnh Thanh Hóa.

Các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục, thông tin tuyên truyền được duy trì và phát triển. Quán triệt Nghị quyết Trung ương (Khóa VIII) Về giáo dục - đào tạo  Khoa học- công nghệ, các cấp ủy, chính quyền chỉ đạo ngành giáo dục phát triển giáo dục toàn diện. Học sinh trong độ tuổi đến lớp tăng lên. Hệ thống trường lớp được sắp xếp hợp lý hơn. Cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, bước đầu đáp ứng yêu cầu dạy và học, xây dựng trường Trung học phổ thông Hàm Rồng và 6 trường trung học cơ sở, trường tiểu học kiên cố cao tầng.

Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình được các cấp, các ngành quan tâm. Ngành y tế Thành phố có nhiều cố gắng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố một bước tạo điều kiện cho việc triển khai và thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế, như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh phong, lao, suy dinh dưỡng trẻ em, sốt rét, bướu cổ...

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Thành ủy đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; Mặt trận Tổ quốc và ngành văn hóa đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá, phố, làng văn hoá, gia đình văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh, năm 1999 đã hình thành 45 làng, phố văn hoá. Các địa phương chú trọng khai thác, giữ gìn, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Phong trào văn nghệ quần chúng, nhất là vào dịp lễ hội và Tết cổ truyền của dân tộc được quan tâm, từ đó khơi dậy tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân.

Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp. Năm 1998, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo quy hoạch đất xây dựngsân chơi, bãi tập và mua sắm phương tiện cần thiết trang bị cho vận động viên. Năm 2000, thực hiện cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, các cơ quan, xí nghiệp, các phường, xã trên địa bàn Thành phố cùng các huyện, thị trong tỉnh đã tổ chức lễ phát động. Đoàn thanh niên Thành phố phát động phong trào “Tuổi trẻ khỏe để lập nghiệp và giữ nước”. Thành phố cùng các ngành, địa phương trong tỉnh phát động phong trào “Ngày đi bộ trong toàn tỉnh”.

Các chính sách xã hội được quan tâm, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện, vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai,... được sự tham gia hưởng ứng tích cực trong các tầng lớp nhân dân, trở thành nét đẹp trong đời sống xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của các đối tượng chính sách không ngừng được nâng lên; đời sống của nhân dân tiếp tục được ổn định và cải thiện, giảm tỷ lệ đói nghèo từ 5,72 % xuống 4,75%. Năm 2000, bình quân thu nhập đầu người đạt 620 USD/người.

Với những nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ và nhân dân Thành phố về thực hiện các chính sách xã hội nói chung và công tác thương binh, liệt sĩ, phong trào đền ơn đáp nghĩa nói riêng, ngày 22-7-1997, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 1303 KT/CT tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho cán bộ và nhân dân Thành phố Thanh Hoá, đã có thành tích xuất sắc trong công tác thương binh, liệt sĩ và phong trào đền ơn, đáp nghĩa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác quốc phòng - an ninh được các cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên chăm lo. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia, chống “diễn biến hòa bình”, đồng thời thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến lược an ninh quốc gia, Thành ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, xây dựng kế hoạch tác chiến ở từng phường, xã, đồng thời xây dựng kế hoạch phòng thủ vững chắc, sẵn sàng ứng phó thắng lợi mọi tình huống xảy ra.

Thực hiện Nghị quyết số 09/CP của Chính phủ và Quyết định số 139-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tăng cường công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các cấp, các ngành tích cực đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, số đề... Lực lượng công an làm tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đấu tranh chống các loại tội phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các cấp ủy Đảng quan tâm.

Thế trận quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định tạo điều kiện, môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 22-8-1998, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 424-KT/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho nhân dân và lực lượng vũ trang tiểu khu Hàm Rồng (nay là phường Hàm Rồng). Ngày 11-6-1999, Chủ tịch Nước ký  Quyết định số 203-KT/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho nhân dân và lực lượng vũ trang các xã, tiểu khu: Phú Sơn (nay là phường Phú Sơn); Nam Ngạn (nay là phường Nam Ngạn), Đông Thọ (nay là phường Đông Thọ và xã Đông Cương).

Hệ thống chính quyền được củng cố một bước. Cùng với tổng kết hoạt động Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 1994-1999, ngày 14-11-1999, Thành phố đã tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố và phường, xã, nhiệm kỳ 1999-2004. Kết quả, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố đã bầu được 35 đại biểu. Sau bầu cử, cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân Thành phố và phường, xã được kiện toàn một bước. Tại kỳ họp thứ nhất ngày 27-12-1999, Hội đồng nhân dân Thành phố bầu đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân, đồng chí Bùi Tường Hỷ giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân đã tuân thủ đúng quy chế, chức năng, nhiệm vụ được xác định; từng bước đổi mới phương thức làm việc. Các kỳ họp Hội đồng nhân dân được cải tiến một bước. Những nghị quyết về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Hình thức tiếp xúc cử tri được đổi mới. Hoạt động của Ủy ban nhân dân được cải tiến theo tinh thần cải cách hành chính, có nhiều chuyển biến tích cực trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương. Công tác điều hành có nhiều đổi mới trên lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội; Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức định kỳ giao ban cụm.

Công tác dân vận được củng cố từng bước, quy chế dân chủ đi vào cuộc sống. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đổi mới, ngày 20-8-1997, Ủy ban nhân dân Tỉnh ra Quyết định số 1806-QĐ/UB kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác tôn giáo, nhằm tăng cường chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt động tôn giáo trên địa bàn toàn tỉnh. Theo Quyết định này, Ban Tôn giáo Thành phố Thanh Hóa (cùng Ban Tôn giáo các huyện) được thành lập do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Trưởng Ban. Ban có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân Thành phố đề ra chủ trương, giải pháp thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh về công tác tôn giáo.

Mặt trận Tổ quốc vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thi đua lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng nếp sống văn hóa mới; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dântập hợp quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương, đồng thời phát động phong trào “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách” và vận động nhân dân xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào các tỉnh bị thiên tai...

Hội Phụ nữ vận động các hội viên thực hiện tốt các nội dung chương trình công tác trọng tâm của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, đồng thời động viên chị em tích cực tham gia các phong trào: Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, Nuôi con khỏe dạy con ngoan, Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, Xây dựng gia đình văn hóa mới,

Từ tháng 5-1996, Đoàn thanh niên Thành phố tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương Đoàn lần thứ 2 khóa VI và thực hiện 5 chương trình do Tỉnh đoàn phát động, trong phong trào thi đua “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”Trong những năm 1996-2000, Thành đoàn phát động sâu rộng trong các tổ chức đoàn cơ sở các phong trào: Vì ngày mai lập nghiệp, Thanh niên với cuộc đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, Thanh niên với vấn đề về sức khỏe và dân số kế hoạch hóa gia đìnhphối hợp với ngành giáo dục thực hiện tốt các phong trào đoàn, đội ở trường học.

Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh tích cực vận động hội viên tham gia các phong trào: Giúp nhau làm kinh tế gia đình, Xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa… Hoạt động của Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh đã góp phần động viên nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Đảng bộ Thành phố thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức, cán bộ và đảng viên. Trong công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, Đảng bộ luôn quán triệt phương châm: phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Thành ủy đã tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện các bước, đảm bảo đúng quy trình và đạt kết quả tốt. Ý thức phê bình và tự phê bình trong cán bộ, đảng viên được đề cao.

Trong công tác tổ chức, cán bộ, Đảng bộ quán triệt sâu rộng Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) Khóa VIII về tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với đổi mới, chỉnh đốn tổ chức cơ sở Đảng. Nhờ vậy, số cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Kết quả phân loại năm 1999, có 63/104 tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh bằng 62,1%; tỷ lệ đảng viên loại 1 đạt 90,9%, loại 2 là 54%; loại 3 và 4 giảm còn 0,56%.

Đi đôi với tăng cường củng cố cơ sở Đảng, nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, Đảng bộ cử nhiều cán bộ tham dự các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và quản lý Nhà nước do Trung ương và tỉnh mở; mở lớp bồi dưỡng chính trị phổ thông cho đảng viên.

Trong công tác cán bộ, Đảng bộ chú trọng đánh giá cán bộ từ phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị đến năng lực công tác và uy tín với nhân dân. Về phát triển đảng viên mới, đến năm 1999, đã kết nạp 311 đảng viên.

Thực hiện Điều lệ Đảng, hàng năm Thành ủy quan tâm chỉ đạo công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng. Qua kiểm tra các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên đã góp phần giáo dục và ngăn chặn những hiện tượng vi phạm kỷ luật Đảng của đảng viên và tổ chức Đảng; góp phần củng cố các cơ sở Đảng yếu kém. Ngoài ra, Ủy ban kiểm tra Thành phố giải quyết có hiệu quả đơn thư khiếu nại của nhân dân theo đúng nguyên tắc và quy định về công tác kiểm tra Đảng.

Năm 2000, năm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ và là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó, Đảng bộ Thành phố đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, ổn định và tiếp tục nâng cao đời sống nhân dân, đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, nhất là tệ nạn ma túy, đảm bảo an ninh và trật tự an toàn xã hội, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; củng cố và tăng cường vai trò hệ thống chính quyền, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ghi nhận những thành tích xuất sắc của Thành phố từ năm 1994 - 1998 góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, ngày 21-2-2000, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 20 KT/CTN tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Hai cho nhân dân và cán bộ Thành phố Thanh Hóa.

Trải qua 15 năm cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, bước đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Đảng bộ Thành phố đã trăn trở, tìm hướng đi lên trên con đường đổi mới quê hương. Các nghị quyết của Đảng bộ Thành phố đã thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo trong việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhờ sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và sự nỗ lực của các tầng lớp nhân dân, kinh tế - xã hội của Thành phố có sự chuyển biến đáng kể. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ngày càng được cải thiện. An ninh quốc phòng được củng cố; diện mạo quê hương hoàn toàn đổi mới, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Khởi nguồn của những biến đổi hết sức lớn lao và sâu sắc ấy là đường lối đổi mới của Đảng, sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Thành phố.

Trong hoàn cảnh rất khó khăn, với ý thức tự lực, tự cường, Đảng bộ Thành phố đã quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao lòng tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững sự ổn định chính trị, quốc phòng-an ninh. Mặt khác, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các ngành, các cấp, các địa phương trong và ngoài Tỉnh, của Thị xã Hội An kết nghĩa, tạo ra tiền đề quan trọng và  vững chắc cho bước phát triển cao hơn của Thành phố vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI.




Báo cáo tổng kết năm 1987, phương hướng nhiệm vụ năm 1988. Lưu tại Văn phòng Thành ủy. Trang 12.

Xem: Ban Chấp hành  Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, 1975-2000, Tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản, tháng 12-2005, tr.262-263.

Báo cáo của BCH Đảng bộ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIV ngày 29-1-1989.

Tháng 7-1989, đồng chí Trần Văn Lãm - Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị xã được Tỉnh ủy điều động nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Trịnh Đình Bốn được Tỉnh ủy chỉ định là Quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị xã từ tháng 7 đến tháng 11-1989.

Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa khóa XIV tại Đại hội Đại biểu khóa XV (vòng II) trang 18.

Báo cáo của Ban Chấp hành  Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa tại Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV tháng 3-1994.

Từ đô thị loại 4 lên đô thị loại 3, Thành phố Thanh Hóa tiếp nhận thêm xã Đông Cương (thuộc huyện Đông Sơn), các xã: Quảng Hưng, Quảng Thành và một phần xã Quảng Thịnh (thuộc huyện Quảng Xương)

Bài phát biểu của đồng chí Lê Văn Tu tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Thanh Hoá lần thứ XVI nhiệm kỳ 1996-2000. Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ.

Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa XV tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI. Tháng 3-1996.

 

(Post by: Trần Chiến; Nguồn sách Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 do Thành ủy TP Thanh Hóa biên soạn và xuất bản 5/2014)

 

CHƯƠNG VII ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1986-2000)

Đăng lúc: 24/10/2014 15:53:44 (GMT+7)

Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 (Tiếp theo)

I. QUÁN TRIỆT ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG, ỔN ĐỊNH VÀ CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (1986-1990)

Trong quá trình dự thảo các Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã phân tích sâu sắc sai lầm, khuyết điểm trong 10 năm (1975-1986) cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế trong việc hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước. Kết luận của Bộ Chính trị về ba quan điểm kinh tế: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ chế quản lý; cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới là sự đổi mới về chất trong tư duy kinh tế của Đảng, là định hướng để các địa phương xác định kế hoạch, chiến lược phát triển phù hợp điều kiện thực tế của địa phương mình.

Quán triệt tinh thần đổi mới được thể hiện trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, từ ngày 6 đến 11-10-1986 tại Hội trường Thị ủy, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, nhiệm kỳ 1986-1989. Dự Đại hội có 309 đại biểu thay mặt cho 7.364 đảng viên từ 145 cơ sở Đảng trong Đảng bộ.

Thấm nhuần tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, Đại hội khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - văn hóa, an ninh - quốc phòng, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị từ Thị xã đến cơ sở theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XII; nêu ra nguyên nhân khách quan và chủ quan của những thành công và chưa thành công.

Kiểm điểm công tác lãnh đạo của Thị ủy, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ nêu rõ: "Chỉ thị, nghị quyết của Thị ủy không sai đường lối quan điểm của Đảng, nhưng có nghị quyết chưa thật cụ thể, chưa rõ biện pháp, chính sách thực hiện. Nhận thức đường lối quan điểm của Đảng chưa nhất quán (như vấn đề phát triển thủ công nghiệp, xuất khẩu, vấn đề cải tạo tư tưởng, quản lý thị trường tận gốc, v.v...) chậm đổi mới phong cách làm việc và chưa cụ thể hóa được cơ chế Đảng lãnh đạo thông qua chính quyền và đoàn thể...”.

Đại hội phân tích sâu sắc những thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, thảo luận và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu trong 3 năm 1986-1988, phấn đấu xây dựng "Thị xã Thanh Hóa phải trở thành trung tâm của sản xuất công nghiệp - nông nghiệp tiên tiến, dịch vụ và đời sống phát triển tiêu biểu cho nền kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán tốt đẹp và nếp sống văn minh của cả tỉnh".

Từ phương hướng, nhiệm vụ chung đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ trọng tâm:

1. Xuất phát từ phương hướng cơ bản của Tỉnh: "Từ lương thực, xuất khẩu và sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên", ổn định và tiếp tục phát triển mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất tiểu, thủ công nghiệp; phát triển giao thông vận tải; mở rộng dịch vụ, chú trọng dịch vụ đời sống. Phát triển nông nghiệp toàn diện, tập trung thâm canh tăng năng suất, hình thành vành đai thực phẩm ổn định. Mọi người có việc làm và đời sống ổn định.

2. Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, truyền thanh, thể dục thể thao... làm tốt công tác nhà đất, từng bước xây dựng đô thị theo quy hoạch để đổi mới bộ mặt của Thị xã.

3. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Tăng cường kinh tế quốc doanh, củng cố phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế gia đình phát triển đúng hướng.

4. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, hệ thống chính quyền có đủ năng lực quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, các đoàn thể quần chúng vững mạnh.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIII gồm 39 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Tạ được bầu làm Bí thư; Đồng chí Trịnh Đình Bốn làm Phó Bí thư Thường trực; đồng chí Trần Văn Lãm làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII, từ ngày 23 đến 29-10-1986, đã xác định phương hướng, nhiệm vụ của Tỉnh những năm 1986-1990: “Từ lương thực, xuất khẩu, sản xuất hàng hóa phong phú mà đi lên. Từ đó xây dựng cơ cấu kinh tế nông-lâm-ngư-công nghiệp và dịch vụ sát hợp. Gắn liền kinh tế với xã hội, coi trọng chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, lấy giáo dục phổ thông và bảo vệ sức khỏe làm cơ bản. Thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và an ninh nhân dân; lấy dân làm gốc, lấy cơ sở làm nền tảng, lấy sức mạnh tại chỗ làm chính. ... Nâng cao năng lực lãnh đạo và ý chí cách mạng tiến công, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, tiếp cận tiến bộ khoa học hiện đại, thực hiện cơ chế quản lý mới, sáng tạo cách làm, đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.

Bảo đảm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, trên cơ sở giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nâng cao kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, chủ trương, cơ sở pháp luật cho nhân dân, nhằm hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng về tư tưởng, tổ chức và phong cách làm việc; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các hiện tượng tiêu cực; xây dựng khối đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, ý thức tổ chức kỷ luật; đổi mới công tác cán bộ và phong cách làm việc.

Tháng 12-1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Đại hội xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân ta trong những năm 1986-1990 là tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, là bước ngoặt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; là những định hướng lớn, mở ra cơ hội để Thị xã cùng các địa phương trong cả nước phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh để thực hiện thành công đường lối đổi mới, trọng tâm trước mắt là ba chương trình kinh tế lớn.

Bước vào năm 1987, đồng thời với tổ chức các đợt học tập quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, Đảng bộ Thị xã đã tổ chức một số hội nghị quan trọng nhằm cụ thể hóa và xác định những giải pháp thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng.

Trong hai ngày 12 và 13-1-1987, Thị ủy họp tổng kết công tác năm 1986 và bàn phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể năm 1987 theo quan điểm đổi mới. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: "... ngay từ năm 1987 Thị xã chúng ta phải đổi mới mọi mặt, nhất là kinh tế, văn hóa. Phấn đấu tiến nhanh, tiến mạnh, không chần chừ, bỏ lỡ, thời gian với ý thức là không để thua kém các huyện, thị bạn". Trọng tâm công tác năm 1987 là phấn đấu thực hiện có kết quả ba chương trình, mục tiêu:

- Chương trình hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.

- Chương trình sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm.

- Chương trình nếp sống văn hóa mới.

Năm 1987 là năm đầu thực hiện Nghị quyết VI của Đảng trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ Thị xã đã tiếp thu, vận dụng đúng đắn, kịp thời chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh ủy, nhất là quan điểm mới về kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Thị ủy, sự chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân Thị xã, "Nhiều đơn vị đã chủ động, tích cực phát huy được tính năng động, vươn lên hoàn thành mục tiêu kế hoạch Nhà nước đề ra, đảm bảo đời sống người lao động đỡ khó khăn hơn, phong trào thi đua yêu nước trong lao động sản xuất đang có sức phát triển. Nhất là phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, tự trang, tự chế công cụ, phương tiện làm việc nhằm đưa năng suất lao động ngày càng cao. Chất lượng sản phẩm ngày càng tốt, hiệu quả kinh tế ngày càng rõ rệt. Đầu tư ngân sách, đầu tư phúc lợi, đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng để mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động đã được đồng thời chú ý đúng mức, đã tạo ra khả năng, triển vọng phát triển của sản xuất, phục vụ cho ba chương trình kinh tế của Đảng. Các hoạt động văn hóa - xã hội có kết quả khá. An ninh - quốc phòng được giữ vững, có mặt đi vào chiều sâu…”.

Thị ủy và Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI, phiên họp ngày 14/7/1987 về mở cuộc vận động “Hưởng ứng những việc cần làm ngay” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, với nội dung cơ bản là: Đấu tranh giải quyết dứt điểm các vụ việc tiêu cực mà xã hội bức xúc, đòi hỏi sớm giải quyết, nhằm củng cố lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, động viên tinh thần hăng hái sản xuất lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống tiêu cực, phát hiện và biểu dương kịp thời các nhân tố tích cực, nhân lên các điển hình tiên tiến.

Trên cơ sở tổng kết những kết quả bước đầu đạt được trong năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, ngày 26 và 27-1-1988, Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã họp và quyết định phương hướng nhiệm vụ năm 1988.

Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội của Thị xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nạn đói diễn ra trên phạm vi rộng, đời sống cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang vô cùng khó khăn.

Ngày 16-9-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra để xem xét, giúp đỡ Đảng bộ tỉnh giải quyết một số vấn đề nội bộ. Tháng 3-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo 74 về việc giải quyết vấn đề nội bộ của Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa. Sau khi có Thông báo 74, Tỉnh ủy điều động đồng chí Hoàng Văn Thịnh về làm Bí thư Thị ủy Thị xã Thanh Hóa.

Đồng thời với tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, Đảng bộ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, mà chủ yếu là đổi mới tư duy kinh tế, cơ chế quản lý, triển khai chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng giao lưu kinh tế, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng bằng nỗ lực lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, Thị ủy đã lãnh đạo đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những kết quả bước đầu quan trọng.

Về sản xuất công nghiệp, 13 đơn vị quốc doanh (trong nhiều ngành khác nhau) do Thị xã quản lý toàn diện được sắp xếp lại sản xuất, giảm biên chế gián tiếp theo tinh thần Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng.

Thực hiện Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, các thành phần kinh tế từng bước được tạo điều kiện phát triển và có nhiều đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thị xã. Bởi vậy, giá trị tổng sản lượng ngành kinh tế trong 3 năm 1986-1988 đã tăng 0,1% so với kế hoạch, tăng 33% so với những năm 1983-1985. Trong đó khu vực tiểu thủ công nghiệp đạt 150% kế hoạch; khu vực tổ sản xuất và tư nhân đạt 100% kế hoạch. Toàn ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp Thị xã sản xuất thêm 34 mặt hàng mới (kẹo bao viên xuất khẩu, thảm xuất khẩu...), mở rộng thêm 6.320 m2 nhà xưởng; liên kết khai thác gần 8000 tấn nguyên liệu phục vụ sản xuất, thu hút 575 lao động.

Thực hiện chủ trương phát triển các thành phần kinh tế của Đảng, Thị ủy khuyến khích nhân dân Thị xã phát triển sản xuất tổ tư nhân, gia đình. Ủy ban nhân dân Thị xã ra Quy định tạm thời số 161 về khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Trong 3 năm 1986-1988, khu vực này tạo ra giá trị tổng sản lượng trên 173 triệu đồng, bằng 35% toàn ngành công nghiệp-thủ công nghiệp của Thị xã. Việc thực hiện các chính sách kinh tế mới của Đảng đã có tác dụng tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội, kích thích tính năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân cũng như của các đơn vị sản xuất.

Ngày 29-1-1989, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa lần thứ XIV. Đại hội kiểm điểm các mặt hoạt động của Đảng bộ trong nhiệm kỳ XIII và đề ra phương hướng hai năm 1989-1990.

Trong không khí dân chủ, công khai, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật", Đại hội đã thẳng thắn tổng kết, phân tích những mặt đã đạt được và chỉ ra những hạn chế về các mặt, rút ra một số bài  học kinh nghiệm. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, với tinh thần trách nhiệm cao trước yêu cầu đổi mới, Đại hội đã tập trung trí tuệ bàn bạc, hoạch định phương hướng cơ bản nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: "Đẩy mạnh phát triển sản xuất (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp), mở mang lưu thông hàng hóa, giải quyết việc làm cho người lao động, giữ vững và nâng cao dần mức sống cho nhân dân, củng cố xây dựng quốc phòng vững mạnh, đảm bảo cho Thị xã có nếp sống văn minh, trật tự an toàn xã hội".

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIV, nhiệm kỳ 1989-1991, gồm 35 đồng chí, bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Hoàng Văn Thịnh được bầu làm Bí thư; đồng chí Ngô Đức Kính làm Phó Bí thư thường trực; đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Sau Đại hội lần thứ XIV, Đảng bộ Thị xã đã triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành các chương trình hành động đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Nhằm tạo sự chuyển biến trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý được đặt ra cấp thiết. Ngày 10-5-1990, Ban Thường vụ Thị ủy ra Nghị quyết về Tiếp tục thực hiện đổi mới chính sách và cơ chế quản lý, tăng cường củng cố phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nghị quyết đi vào cuộc sống đã đánh thức và huy động được tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề kỹ thuật và tinh thần chủ động, sáng tạo của các tầng lớp dân cư Thị xã. Số lượng các đơn vị, cơ sở sản xuất khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh, đa dạng và phong phú về loại hình, góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.

Thị ủy Thanh Hóa chỉ đạo thực hiện Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng (năm 1988) về dân chủ hóa các hoạt động kinh tế, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho cơ sở phát huy quyền chủ động theo hướng hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Ngay sau khi có Quyết định 217, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Trước hết tổ chức đổi mới công tác quản lý đối với 3 doanh nghiệp quốc doanh; giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị; sắp xếp lại sản xuất, giảm biên chế gián tiếp, đầu tư nâng cao năng suất lao động, tạo thêm nhiều sản phẩm mới. Khuyến khích các thành phần kinh tế bung ra trong sản xuất kinh doanh, tạo sự phát triển phong phú, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa, hướng về xuất khẩu.

Đồng thời, các cấp Công đoàn mở Đại hội công nhân viên chức bầu Hội đồng xí nghiệp. Đến năm 1990 đã có 100% số đơn vị mở được Đại hội công nhân viên chức, ra Nghị quyết về sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, tìm các giải pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, cải tiến, thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm, đầu tư thiết bị, dây chuyền sản xuất mới...

Đến năm 1990, trong lịch vực sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, đã có 561 cơ sở sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, bao gồm 47  hợp tác xã chuyên và đa ngành nghề, 65 tổ hợp tác, 404 hộ cá thể và 1 xí nghiệp tư nhân, thu hút 483 lao động, đưa số lao động có công ăn việc làm lên 6.672 người. Các hộ tư nhân đã mạnh dạn bỏ vốn mua sắm phương tiện vận tải, đầu tư các ngành nghề... tạo thành lực lượng sản xuất mới, góp phần làm phong phú các mặt hàng trên thị trường, giải quyết việc làm cho người lao động.

Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, sang cơ chế quản lý kinh tế mới, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hầu hết các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp sản xuất không ổn định, còn lúng túng tìm bước đi trong cơ chế mới, giá trị sản lượng có xu hướng giảm dần (năm 1989 chỉ bằng 91% so với năm 1988; năm 1990 bằng 98% so với năm 1989 và chỉ đạt 67% so với mục tiêu Đại hội XIV đề ra).

Trong quá trình tổ chức lại sản xuất, một số đơn vị sản xuất tập thể thuộc ngành tiểu thủ công nghiệp và vận tải đã phát sinh vấn đề mới, có lúc có nơi khá phức tạp. Số đông xã viên ở những đơn vị này không đồng tình với cách quản lý và phân phối ... của Ban Chủ nhiệm hợp tác xã, đã kéo lên Thị ủy và Ủy ban nhân dân Thị xã khiếu kiện nhiều ngày, ảnh hưởng không tốt đến tình hình sản xuất và trật tự an toàn xã hội.

Trước tình hình ấy, được sự chỉ đạo kịp thời của Thường vụ Thị ủy, các cơ quan chức năng của cấp ủy, chính quyền địa phương đã quan tâm giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra, nhằm sớm ổn định tình hình và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh trong các hợp tác xã.

Ngày 6-12-1991, Ủy ban nhân dân Thị xã đã ban hành Quy định số 306, hướng dẫn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, nghiên cứu quán triệt và có kế hoạch triển khai thực hiện đồng bộ nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh.

Việc thực hiện nghiêm túc Quy định 306 của Ủy ban nhân dân Thị xã đã góp phần quan trọng chấm dứt tình trạng khiếu kiện, xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của xã viên. Đồng thời, tổ chức lại mô hình sản xuất của hợp tác xã; một số hợp tác xã chuyển thành hợp tác xã cổ phần, một số chuyển đổi thành tổ sản xuất với quy mô phù hợp. Tuy nhiên, sau chuyển đổi thành tổ sản xuất, máy móc, thiết bị kỹ thuật phân tán, hiện tượng thiếu việc làm gia tăng, đời sống của người lao động gặp khó khăn.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, tháng 4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp. Nghị quyết đánh dấu sự đổi mới căn bản về công tác khoán, với việc ổn định mức khoán 5 năm và giao đất ổn định, lâu dài từ 10 đến 15 năm cho các hộ nông dân; khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (còn gọi khoán 10) ra đời đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người nông dân, khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng đất đai, lao động; giải quyết những bế tắc về cơ chế, góp phần điều hòa lợi ích kinh tế của Nhà nước, tập thể và nông dân.

Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã họp bàn về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và chỉ đạo tổ chức lại hợp tác xã nông nghiệp. Cơ chế khoán 10 được thực hiện ở tất cả các  hợp tác xã nông nghiệp và nhanh chóng phát huy tác dụng. Quyền sở hữu tư liệu sản xuất của xã viên được mở rộng. Vai trò tự chủ sản xuất của xã viên được đề cao; xã viên mạnh dạn đầu tư công sức, tiền vốn thực hiện thâm canh tăng vụ để nâng cao năng suất, sản lượng lương thực. Chăn nuôi phát triển hơn, đàn trâu bò tăng 15,3% đạt mục tiêu về sức kéo, đàn lợn tăng 15%, đàn gia cầm tăng 34%.

Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Đảng bộ Thị xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khai thác tiềm năng, nguyên liệu sẵn có ở địa phương để đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, liên doanh, liên kết mở nhiều cơ sở sản xuất vật liệu, cơ khí, hàng xuất khẩu, mộc dân dụng,… Hướng dẫn tập thể, cá nhân đầu tư vốn, lao động, kỹ thuật, mở rộng sản xuất, khai thác tiềm năng, thế mạnh của Thị xã.

 Lĩnh vực lưu thông phân phối có chuyển biến theo hướng tích cực hơn; thị trường được khơi thông; lưu lượng hàng hóa trao đổi tăng lên và ngày càng phong phú hơn.

Trong công tác xây dựng cơ bản và quản lý đô thị, những năm 1986-1990, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã quan tâm chỉ đạo tập trung đầu tư cải tạo, xây dựng nhiều công trình kết cấu hạ tầng, làm cho bộ mặt đô thị đổi thay đáng kể.

Trong xây dựng và phát triển hệ thống đường giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội và quốc phòng-an ninh, được sự quan tâm của Trung ương, thực hiện phương hướng chỉ đạo của Tỉnh ủy: “Nâng cấp cải tạo là chính, xây dựng mới có trọng điểm, ưu tiên các tuyến đường trọng điểm”, công tác giải phóng mặt bằng phục vụ nâng cấp, cải tạo, làm mới nhiều tuyến đường được quan tâm, như: Tuyến quốc lộ 1A, hoàn thành nền đường, cống rãnh và rải nhựa đoạn Thị xã và đoạn Phan Chu Trinh-Hàm Rồng; xây dựng, sửa chữa tuyến Thị xã Thanh Hóa-Sao Vàng; tu bổ, nâng cấp (trải đá, láng nhựa) một số đoạn đường xấu tuyến Thị xã Thanh Hóa-Mục Sơn-Đồng Tâm-Na Mèo; thi công tuyến đường Thị xã Thanh Hóa- Thị xã Sầm Sơn; cán cấp phối, sửa chữa mặt đường... tuyến Thị xã Thanh Hóa - Kiểu...

Tiếp tục xây dựng hệ thống thoát nước và cấp nước đô thị, mạng lưới điện vùng nội thị. Nhiều công trình hạ tầng, nhà ở và trụ sở kiên cố được xây dựng; lĩnh vực xây dựng cơ bản từng bước gắn với quy hoạch đô thị. Nhà ở của các khu dân cư được định hướng và quy hoạch cụ thể. Nhiều hộ gia đình kinh tế phát triển đã xây dựng các khu nhà cao tầng, góp phần đổi mới bộ mặt đô thị. 

Bên cạnh nguồn vốn đầu tư của Trung ương, của Tỉnh, Thị xã đã huy động được sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc cải tạo đường giao thông, xây dựng nhà văn hóa, công viên ... làm cho Thị xã đẹp hơn và khang trang hơn.

Sự nghiệp văn hóa xã hội từng bước đổi mới. Được sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân Thị xã, lĩnh vực giáo dục của Thị xã  có nhiều chuyển biến tích cực trong thời kỳ đổi mới, nhiều năm liền đạt lá cờ đầu toàn tỉnh. Cùng với phát triển giáo dục phổ thông, Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức vận động nhân dân Thị xã phát triển giáo dục bổ túc văn hóa xóa mù chữ, tiến tới mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học.

Mạng lưới trường lớp được điều chỉnh theo quy mô hợp lý. Số lượng học sinh năm học 1987-1988 tăng hơn 14% so với năm học 1986-1987.

Nhờ cơ sở vật chất trường lớp được quan tâm cải tạo, xây dựng mới, số phòng học tăng nhanh, nên Thị xã đã giảm được tình trạng học "ca ba"; chỉ còn 28/180 lớp học “ca ba”. Chất lượng dạy và học được duy trì. Hiệu quả của lớp chuyên, lớp chọn được nâng cao. Thị xã trở thành đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh trong các kỳ thi giáo viên, học sinh giỏi tuyến tỉnh và quốc gia, có em đạt giải quốc tế.

Tháng 1-1990, Thị xã Thanh Hóa, đơn vị đầu tiên của tỉnh được Bộ Giáo dục-Đào tạo công nhận đã phổ cập tiểu học và xóa mù chữ. Các phường Ngọc Trạo, Ba Đình, Hàm Rồng là những đơn vị có thành tích xuất sắc về phổ cập tiểu học và xóa mù chữ.

Hoạt động y tế chuyển biến theo cơ chế mới. Việc chăm lo sức khỏe ban đầu cho nhân dân có tiến bộ đáng kể, kịp thời phòng dịch và dập tắt các bệnh dịch nguy hiểm, mở rộng tiêm chủng 6 loại vác xin cho các cháu trong độ tuổi. Sản xuất và kinh doanh thuốc chữa bệnh, dịch vụ y tế phát triển tạo thuận lợi khám và chữa bệnh cho nhân dân. Toàn ngành đã triển khai chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, góp phần quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Thị xã xuống 1,4%, đạt mục tiêu Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIV đề ra.

Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Thị ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, lấy xây dựng “gia đình văn hóa” làm nền tảng, với các tiêu chí: Gia đình hòa thuận, ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo; làm kinh tế, tổ chức đời sống và thực hiện kế hoạch hóa gia đình tốt; xây dựng sự đoàn kết, tương thân tương ái trong khu dân cư, giữ gìn an ninh chính trị, trạt tự an toàn xã hội; gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Công tác văn hóa thông tin tuyên truyền đã tập trung vào việc phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng, vào các nhiệm vụ trung tâm của Thị xã; xây dựng nếp sống mới, động viên cổ vũ điển hình tiên tiến và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. Hoạt động văn hóa được quan tâm đầu tư. Một số công trình văn hóa, phúc lợi công cộng, di tích lịch sử được phục hồi, tôn tạo và xây dựng.

Hoạt động thể dục thể thao đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi; các môn bóng đá, bóng bàn, cơ vua, thể dục nhịp điệu, võ thuật ... phát triển mạnh trong thanh thiếu niên, học sinh và cán bộ, công nhân viên chức.

Thực hiện nghiêm túc các chính sách xã hội, quan tâm kịp thời đến các đối tượng khó khăn. Đảng bộ và chính quyền Thị xã đã thành lập và tạo điều kiện sinh hoạt cho Câu lạc bộ Hàm Rồng, các câu lạc bộ phường, xã, giúp đỡ thành lập Hội người mù... Đồng thời, quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng, các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa có tác dụng thúc đẩy phong trào sản xuất, tiết kiệm và đấu tranh chống tiêu cực.

Nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân hết sức quan tâm.

Thị ủy, Ủy ban nhân dân Thị xã đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 15-4-1989 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa về công tác quốc phòng-an ninh, với những nội dung quan trọng chủ yếu: Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch và sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược lớn... Phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tích cực chống trốn đi nước ngoài, chống xâm nhập, củng cố các phương án phản gián theo tuyến, theo địa bàn; đấu tranh chống tình báo, gián điệp và các đối tượng phản động phá hoại kinh tế, văn hóa, tư tưởng, không để xảy ra gây rối, bạo loạn. Kiên quyết đẩy lùi tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội.

Các ngành nội chính bước đầu đổi mới phương thức hoạt động, nhất là ở các xã, phường, đảm bảo giao ban tuần đúng định kỳ. Trong công tác an ninh, thực hiện Chỉ thị số 07 của Ban Thường vụ Thị ủy, ngành Công an đã tập trung lực lượng, truy quét 48 ổ, nhóm lưu manh chuyên nghiệp, tăng cường tuần tra kiểm soát trên các trục đường giao thông chính. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì, phát triển. Công tác thanh tra, kiểm sát, xét xử được chú ý và có sự phối hợp chặt chẽ hơn. Việc phát hiện, điều tra khởi tố và xử lý nhiều vụ, việc đã có tác dụng góp phần ngăn chặn những hành vi phạm tội.

Trong công tác quân sự địa phương, cuối năm 1988 đã xây dựng và củng cố 155 đơn vị dân quân. Qua huấn luyện, tuyển quân, nhiều đơn vị đạt danh hiệu Đơn vị quyết thắng. Các cấp ủy, chính quyền đã chỉ đạo, rà soát, bổ sung các phương án phòng thủ, triển khai phương án chống gây rối, bạo loạn. Đến cuối năm 1990 đã hoàn thành hai cuộc diễn tập A2TH 89 và A2TH 91. Hàng năm đảm bảo 100% chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ.

Quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV đối với Đảng bộ và nhân dân Thị xã bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, còn đan xen nhiều khó khăn mới.

Tình hình khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thị xã và đời sống chính trị - xã hội. Trong nước, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn gay gắt.

Đứng trước tình hình mới, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, tháng 8-1989 về công tác xây dựng Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 24 về "Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên". Thực hiện Nghị quyết, Tỉnh ủy đã phát động toàn Đảng bộ tiến hành cuộc vận động củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thị ủy quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 24-NQ/TU, ngày 10-7-1990 về thực hiện Cuộc vận động “Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên”, với những nội dung quan trọng:

- Làm trong sạch đội ngũ Đảng, giáo dục, giác ngộ nâng cao trách nhiệm của đảng viên; đấu tranh kiên quyết, không để trong Đảng có những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội, gây mất đoàn kết và những phần tử làm trái nghị quyết của Đảng.

- Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở đảng, làm cho mỗi tổ chức đảng phải thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong xã hội và luôn thể hiện vai trò lãnh đạo quần chúng, đi tiên phong trong công cuộc đổi mới. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, đồng thời gắn với củng cố chính quyền, đoàn thể quần chúng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức này. Đổi mới sinh hoạt và hoạt động của đội ngũ đảng viên, bảo đảm thực sự là người lãnh đạo, nêu gương trước quần chúng.

Sau cuộc vận động thực hiện Nghị quyết 24 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, kết hợp với việc thực hiện Quyết định 240/HĐBT về phòng, chống tham nhũng và Chỉ thị 09 của Ủy ban nhân dân Thị xã về phát triển các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, vận tải và xây dựng, đã có 8.133/8.547 đảng viên tham gia quán triệt Nghị quyết (chiếm 95%) và 6.966 đảng viên dự phân loại (chiếm 76%).

Công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng được tiến hành nghiêm túc, đúng quy định của Điều lệ Đảng. Trong 2 năm (1989-1990), thông qua công tác kiểm tra, đã xử lý kỷ luật 501 đảng viên với các hình thức khác nhau, trong đó khai trừ và đưa ra khỏi Đảng chiếm tỷ lệ 2%.

Sau cuộc vận động nâng cao chất lượng hoạt động của các Đảng bộ, Chi bộ được củng cố thêm một bước, năng lực và uy tín cấp ủy được nâng lên, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chuyển biến.

Đến cuối năm 1990, Ban Thường vụ Thị ủy tiến hành củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị kinh tế quốc doanh phù hợp với việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh. Cơ sở Đảng ở các Đảng bộ phường, xã được kiện toàn theo địa bàn khối phố, thôn, xóm. Công tác tổ chức, cán bộ được đổi mới theo hướng tinh giản thông qua hiệu quả công tác để nâng cao chất lượng cấp ủy. Từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo của Ban Thường vụ Thị ủy với kết hợp đổi mới phương thức quản lý điều hành của Ủy ban nhân dân Thị xã.

Tuy nhiên, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, chỉ đạo ở một bộ phận đảng viên, cán bộ lãnh đạo chưa ngang tầm nhiệm vụ mới. Việc đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế chậm. Trong quá trình đổi mới, một số cấp ủy buông lỏng vai trò lãnh đạo, nhất là ở những đơn vị kinh tế... Số lượng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh chiếm tỷ lệ thấp, số cơ sở Đảng yếu kém còn cao. Đến năm 1989, trong tổng số 128 cơ sở  Đảng, có 21 cơ sở Đảng vững mạnh, 29 cơ sở yếu kém; năm 1990 trong tổng số 132 cơ sở  Đảng, có 15 cơ sở Đảng vững mạnh…

Công tác phát triển Đảng được coi trọng, quy trình bồi dưỡng xét kết nạp Đảng được cải tiến một bước. Trong nhiệm kỳ, đã kết nạp 354 đảng viên mới ở 76/132 cơ sở Đảng, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, chất lượng.

Trong xây dựng và củng cố chính quyền, Đảng bộ Thị xã đã lãnh đạo tổ chức thực hiện thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân Thị xã, xã, phường (4-1987); đã có 70.225/70.848 cử tri đi bỏ phiếu (chiếm tỷ lệ 94,12%). Sau bầu cử đội ngũ cán bộ được đổi mới, tăng thêm cán bộ trẻ có năng lực và được đào tạo qua trường lớp; bộ máy chính quyền cấp thị và cơ sở được kiện toàn một bước.

Mặt trận Tổ quốc được củng cố, kiện toàn một bước. Đến năm 1989, ở các địa bàn dân cư, đã thành lập được các Ban Mặt trận, thành viên gồm đại diện cấp ủy, đoàn thể, quần chúng ở đội sản xuất, khối phố và những người có trách nhiệm, nhiệt tình, hăng hái và có kinh nghiệm làm tốt công tác vận động quần chúng, hình thành mạng lưới làm công tác mặt trận rộng khắp, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, phấn đấu thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

Đoàn thanh niên đã có nhiều sinh hoạt chính trị, mở các cuộc thi tìm hiểu về Bác Hồ, về Đảng, về truyền thống cách mạng, đổi mới nhận thức cho đoàn viên, thanh niên. Trên cơ sở đổi mới nhận thức về tư tưởng và tổ chức, Thị đoàn đã chỉ đạo tổ chức Đoàn các cấp đẩy mạnh phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” trên các lĩnh vực: Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp: tổ chức Đoàn thường xuyên duy trì phong trào “Luyện tay nghề, thi thợ giỏi, phát động thi đua tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, thi đua hoàn thành kế hoạch, tham gia quản lý xí nghiệp, chống các hiện tượng tiêu cực. Trong văn hóa xã hội, đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới; thi đua “dạy tốt học tốt” trong ngành giáo dục; tích cực tham gia phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; xung kích trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tham gia các đội xung kích an ninh và thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự. Thực hiện cuộc vận động “Xây dựng cơ sở Đoàn vững mạnh”. Thị Đoàn và Đoàn phường đã tiến hành khảo sát, phân loại chi đoàn và đề ra các giải pháp xây dựng cơ sở yếu kém thành cơ sở vững mạnh. Tổ chức Đoàn đã mạnh dạn đối thoại trực tiếp với cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở đề đạt nguyện vọng chính đáng của đoàn viên thanh niên; giới thiệu nhiều đoàn viên ưu tú để các cấp ủy bồi dưỡng, kết nạp đảng.

Trong công tác thiếu niên nhi đồng, tổ chức Đoàn, Đội đã tổ chức cho đông đảo các em tiếp tục triển khai phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ”, “Hành quân theo bước chân những người anh hùng”, đồng thời phát động thực hiện nhiều cuộc vận động mới như: “Em yêu khoa học”, “Áo lụa tặng bà”, “Bát hương cho nghĩa trang liệt sĩ”, “Em yêu đường sắt quê em”,... qua đó giáo dục và cổ vũ hàng ngàn thiếu niên nhi đồng Thị xã phấn đấu đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”, góp phần tích cực vào các hoạt động xã hội của địa phương.

Hội phụ nữ Thị xã có nhiều hoạt động thiết thực, thu hút đông đảo phụ nữ  tham gia thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Hội và của địa phương. Đặc biệt, từ sau năm 1986, hưởng ứng cuộc vận động “Ngày tiết kiệm của phụ nữ nghèo” do Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức, phụ nữ Thị xã đã tích cực tham gia ủng hộ bằng tiền và hiện vật, tương trợ, giúp nhau giải quyết những khó khăn trong sản xuất và đời sống.

Sau khi Hội Cựu chiến binh tỉnh Thanh Hóa được thành lập (6-1990), thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TU, ngày 31-7-1990 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc thành lập Hội Cựu chiến binh cấp huyện, thị và cơ sở, Hội Cựu chiến binh Thị xã được thành lập. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cựu chiến binh trên địa bàn. Ngay sau khi thành lập, Hội tích cực phát triển các chi hội, phát triển hội viên, đưa sinh hoạt đi vào nền nếp, có những đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới quê hương.

Tình hình mới đòi hỏi phải đổi mới công tác quần chúng và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Tháng 4-1990, Hội nghị Trung ương 8 khóa VI ra Nghị quyết về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Trên tinh thần đó các cấp ủy đã quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các tổ chức quần chúng; củng cố tổ chức, cải tiến nền nếp sinh hoạt và đổi mới hình thức hoạt động. Nhờ vậy, cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ được tăng cường.

Sau hơn 4 năm đưa Nghị quyết Đại hội VI của Đảng vào cuộc sống, Thị xã đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, tuy nhiên, so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII và XIV đặt ra thì kết quả đạt được còn thấp: tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, chưa ổn định và gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ người lao động thiếu việc làm còn cao, trật tự đô thị có mặt bị buông lỏng. Vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của chính quyền nhiều lúc chưa phát huy đầy đủ.

Mặc dù còn không ít thử thách, hạn chế, khó khăn, nhưng có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đổi mới và năng lực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng bộ Thị xã. Thành tựu đó đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biểu dương nhân dịp Đồng chí thăm Thị xã và phường Nam Ngạn trong chuyến thăm và làm việc tại Thanh Hóa từ ngày 1 đến 3-10-1990. Những cơ sở, tiền đề quan trọng đạt được củng cố thêm niềm tin vững chắc để Đảng bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới trong chặng đường tiếp theo.

II. ĐẨY MẠNH  SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1991-2000)

Trong 5 năm đầu cùng cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, kinh tế - xã hội của Thị xã  từng bước chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, Thị xã vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thị xã phải nỗ lực không ngừng nhằm khắc phục mọi khó khăn, từng bước phát triển vững chắc về kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, tháng 4-1991 Đảng bộ Thị xã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XV, nhiệm kỳ 1991-1995. Tham dự Đại hội có 303 đại biểu đại diện cho 8.578 đảng viên ở 134 cơ sở Đảng trực thuộc. Đồng chí Lê Huy Ngọ, Bí thư Tỉnh ủy dự và chỉ đạo Đại hội.

Đại hội đánh giá cao những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Thị xã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội và chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục; những khó khăn, thử thách phải vượt qua. Đại hội đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội những năm 1991 – 1995: "Tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới; đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định và nâng dần mức sống cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, lập lại kỷ cương; từng bước xây dựng Thị xã "giàu về kinh tế, vững về quốc phòng - an ninh, đẹp về nếp sống".

Đại hội xác định cơ cấu kinh tế của Thị xã là: Công nghiệp (bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp), thương nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Cơ cấu đó được đan kết vào nhau trong các thành phần kinh tế.

Căn cứ định hướng chung đó, Thị xã tiếp tục khai thác thế mạnh trong mở rộng liên kết, liên doanh, tranh thủ sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự hỗ trợ từ bên ngoài để vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần, vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh".

Đại hội thông qua báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia đóng góp vào các văn kiện dự thảo của Trung ương, báo cáo tổng hợp các ý kiến tham gia dự thảo báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII và bầu Đoàn Đại biểu của Thị xã đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, gồm 27 đồng chí, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã khóa XV gồm 35 đồng chí. Ban Chấp hành đã bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Thịnh được bầu làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm và đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIII diễn ra từ ngày 24 đến 27-7-1991 đã đánh giá những kết quả đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của tỉnh trong 5 năm 1991-1995: “Phát huy kết quả bước đầu đạt được, khắc phục các mặt yếu kém, tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, giữ vững thế ổn định và phát triển về chính trị và kinh tế. Tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện cơ chế quản lý, tập trung sức phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, tạo đà tiến lên trong giai đoạn tiếp theo”.

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII là cơ sở và định hướng để Đảng bộ và nhân dân Thị xã vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương. Quá trình Đảng bộ và nhân dân Thị xã quán triệt và thực hiện các nghị quyết của Đảng luôn nhận được sự quan tâm động viên, khích lệ lớn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Từ ngày 5 đến ngày 9 - 6 -1992, đồng chí Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trong chuyến thăm và làm việc tại Tỉnh Thanh Hóa đã dành thời gian thăm và làm việc tại Thị xã Thanh Hóa. Tiếp đó, từ ngày 18 đến 23-2-1993, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm và làm việc tại Tỉnh Thanh Hóa đã thăm và làm việc tại Thị xã, thăm Câu lạc bộ Hàm Rồng. Những cuộc thăm hỏi, tiếp xúc của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tiếp thêm nguồn lực cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thị xã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV và của Tỉnh ủy được Thị ủy quan tâm. Ngày 7-1-1992, Thị ủy ra Nghị quyết về nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1992.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV và các nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội hằng năm, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đã đẩy mạnh các mặt hoạt động, đưa phong trào của Thị xã lên một bước mới.

Trong hơn hai năm (1991-1993), sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 25%; nông nghiệp, lương thực tăng 9%; chăn nuôi có điều kiện phát triển; nhiều hộ nông dân đã nghiên cứu đổi mới cơ cấu cây trồng, rau trái vụ, hoa cây cảnh...

Lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng nhà ở, kinh tế quốc doanh phát triển nhanh, một số cơ sở công nghệ, kinh tế cá thể và tư nhân cũng được quan tâm phát triển.

Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, làm giàu đời sống văn hóa tinh thần của người dân Thị xã.

Các thành phần kinh tế có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm mạnh.

Chính sách xã hội được quan tâm; quốc phòng-an ninh đảm bảo. Bộ máy chính quyền tiếp tục được xây dựng, củng cố vững chắc và thể hiện được năng lực chỉ đạo, điều hành trong chuyển đổi cơ chế; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được củng cố vững chắc. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Cử tri Thị xã đã nêu cao ý thức chính trị trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, trong xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước các cấp.

Ngày 19-7-1992 cử tri Thị xã đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX. Ngày 20-11-1994 cử tri Thành phố nô nức đi bỏ phiếu bầu đại đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh khóa XIII, Hội đồng nhân dân Thị xã khóa XVII và Hội đồng nhân dân phường, xã nhiệm kỳ 1994-1995.

Căn cứ vào hướng dẫn của Trung ương và của Tỉnh ủy, ngày 25-3-1994, tại Hội trường lớn của Thị ủy, Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa tổ chức Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV.

 Hội nghị có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV nửa nhiệm kỳ, đồng thời hoạch định những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện trong thời gian tiếp theo. Đồng chí Lê Văn Tu, Bí thư Tỉnh ủy dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo Hội nghị.

Trong những năm đầu thực hiện đổi mới toàn diện, Đảng bộ Thị xã đã thực hiện có kết quả các định hướng, mục tiêu và giải pháp sát với tình hình thực tế của địa phương. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội có chuyển biến mới. Hệ thống chính trị được củng cố và kiện toàn, đáp ứng yêu cầu đổi mới. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, mức tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của đô thị tỉnh lỵ.

Quán triệt chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở thực tiễn công cuộc đổi mới ở Thị xã, những thành tựu đạt được cũng như khó khăn, hạn chế, Hội nghị đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát về kinh tế, đó là: "Phát triển mạnh kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thương nghiệp - dịch vụ; chuyển mạnh kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, mở rộng kinh tế đối ngoại".

Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Hội nghị nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới phương thức và phong cách lãnh đạo của cấp  ủy  Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, các đoàn thể nhân dân, phát huy tác phong sâu sát cơ sở, tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của chính quyền và các đoàn thể và cơ sở, coi trọng việc chỉ đạo điểm và xây dựng các mô hình tiên tiến để nhân ra diện rộng. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Củng cố, kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội nghị đã bầu bổ sung 8 ủy viên Ban Chấp hành để thay cho 5 đồng chí chuyển công tác theo sự điều động của Tỉnh ủy.

Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ Thị xã đánh dấu bước tiến của công cuộc đổi mới, chuẩn bị điều kiện cần thiết để Đảng bộ và nhân dân Thị xã bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Giữa thời điểm Đảng bộ và nhân dân Thị xã đang nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XV, một vinh dự lớn đến với Đảng bộ, quân và dân Thành phố Thanh Hóa: ngày 1-5-1994, Chính phủ đã ra Nghị định số 37/CP thành lập Thành phố Thanh Hóa thuộc Tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở các đơn vị hành chính, diện tích, dân số và địa giới hành chính của Thị xã Thanh Hóa. Đây là một bước ngoặt, đánh dấu và ghi nhận quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của đô thị tỉnh lỵ, qua các thời kỳ lịch sử.  Ngày 4-11-1994, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh lỵ Thanh Hóa và công bố quyết định thành lập Thành phố Thanh Hóa trực thuộc Tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 30-8-1995, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 557 QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dâncho nhân dân và lực lượng vũ trang Thành phố Thanh Hóa, vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Đúng dịp Kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945-1995), Đảng bộ và nhân dân Thành phố đón nhận Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Lê Văn Tu, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tỉnh được Chủ tịch Nước ủy quyền trao tặng danh hiệu cao quý cho Đảng bộ và nhân dân Thành phố.

Phần thưởng cao quý đó trở thành nguồn động lực mạnh mẽ đối với Đảng bộ và quân, dân Thành phố trong các phong trào thi đua nhằm hiện thực hóa thắng lợi đường lối đổi mới trên quê hương.

Đến năm 1995, nhiều chỉ tiêu quan trọng, chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XV, Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV và các nghị quyết của Đảng bộ hằng năm đề ra đã được thực hiện đạt kết quả cao. Thành phố Thanh Hóa đã vượt qua thời kỳ khó khăn, tiếp tục ổn định và có bước phát triển mới.

Cơ cấu kinh tế trên địa bàn có sự chuyển dịch đúng hướng: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 48,09% năm 1990 lên 57,4% năm 1995; thương mại - dịch vụ từ 42,69 % giảm xuống 36,04%; nông - lâm nghiệp giảm từ 9,12% còn 6,41%.

Vào những năm đầu thời kỳ đổi mới, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Thị xã bộc lộ nhiều hạn chế, sản xuất kinh doanh kém phát triển. Để khắc phục tình trạng này, Thị ủy đã huy động một số cán bộ ở cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tập trung điều tra, nghiên cứu tình hình, tìm nguyên nhân và đề xuất các biện pháp giải quyết. Trên cơ sở đó, ngày 6-12-1991, Ủy ban nhân dân Thị xã đã ban hành Quy định 36/QĐ-UBTX Hướng dẫn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải đổi mới hợp tác xã, đổi mới quản lý sản xuất kinh doanh.

Về công nghiệp, nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh mới ra đời, giải quyết được việc làm cho nhiều lao động. Giá trị tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng trưởng bình quân trong 5 năm (1991-1995) là 11,8%, trong đó ngành Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tăng bình quân 24,85%. Một số ngành kinh tế quan trọng như chế biến lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, cơ khí sửa chữa, may mặc, vận tải, xây dựng … có thêm nhiều mặt hàng mới; tốc độ tăng trưởng khá.

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển năng động, đến cuối năm 1995 trên địa bàn có 74 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập. Quy mô sản xuất kinh doanh tuy chưa lớn, nhưng đã thu hút một nguồn lao động đáng kể cho Thành phố.

Hoạt động thương nghiệp ngày càng sôi động, công tác quản lý thị trường ở một số khu vực được sắp xếp lại, đi vào ổn định, nền nếp hơn. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh từng bước vươn lên thích ứng hơn với cơ chế mới. Thương nghiệp tư nhân phát triển mạnh về quy mô, cùng với thương nghiệp quốc doanh làm tốt chức năng cung ứng hàng hóa, vật tư cho các ngành sản xuất và nhu cầu sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân.

Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng và  phong phú, như dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, tắm giặt... đáp ứng yêu cầu xã hội và góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên địa bàn.

Về nông nghiệp, đã chú ý chuyển đổi cơ cấu cây, con. Diện tích trồng lúa kém hiệu quả được định hướng chuyển sang trồng và nuôi các loại cây, con có hiệu quả kinh tế cao ngày càng nhiều. Một số đơn vị đã phát triển các loại hình và ngành nghề sản xuất mới, như: nuôi cá xen trồng lúa ở Phú Sơn; nuôi gà công nghiệp ở Hàm Rồng; nuôi cá trê lai ở Quảng Thắng... Chăn nuôi phát triển, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 48,7% giai đoạn 1986-1990 lên 51,2% trong những năm 1991-1995.

Nhìn chung, nông nghiệp bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa, giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1995 đạt 9 tỷ đồng, tăng 8,2% so với năm 1994, đưa giá trị tăng bình quân trong 5 năm lên 9,16%.

Trong hoạt động kinh tế xuất nhập khẩu, vẫn duy trì được một số mặt hàng truyền thống, phát triển thêm một số mặt hàng mới, như: nấm mỡ của Công ty ăn uống; rượu của Công ty chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu; quặng Crôm của Xí nghiệp Sứ Thanh Hóa...

Sự phát triển của Thành phố trong tiến trình đổi mới, nhất là kể từ khi được nâng cấp trở thành Thành phố thuộc tỉnh, quy hoạch Thành phố dần dần được mở rộng.

Đến tháng 12-1995, Thành phố có 11 phường: Hàm Rồng, Đông Thọ, Trường Thi, Nam Ngạn, Điện Biên, Phú Sơn, Ba Đình, Ngọc Trạo, Đông Vệ, Đông Sơn, Lam Sơn và 6 xã: Quảng Thắng, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Thành, Đông Cương, Quảng Hưng.

Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh. Hầu hết các tuyến đường chính trong cả nội và ngoại thành được nâng cấp, như: Đại lộ Lê Lợi, đường Nguyễn Trãi, Dương Đình Nghệ, Phan Chu Trinh... Hệ thống thoát nước được bổ sung, như: Hồ Thành, kênh Tân Sơn, Đại lộ Lê Lợi... Mạng lưới bưu chính viễn thông được mở rộng và hiện đại hóa. Các tụ điểm kinh doanh, các chợ khu vực, như: chợ Điện Biên, Tây Thành, Nam Thành, Đông Thành, Trường Thi; một số công trình văn hóa, như: Nhà văn hóa thiếu nhi, công viên Lam Sơn, hàng chục ngôi trường 2 tầng được đưa vào sử dụng. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng như đẩy mạnh phong trào trồng cây, trồng cây xanh đường phố. Các dịch vụ vệ sinh công cộng, có nhiều chuyển biến tốt, công tác quản lý quy hoạch và xây dựng cơ bản, xử lý lấn chiếm đất đai, vi phạm lòng đường, vỉa hè... được chấn chỉnh, xử lý kịp thời. Hoàn thành việc đặt tên đường phố và đánh lại số nhà. Kết quả trên làm cho bộ mặt Thành phố thay đổi nhanh chóng.

Sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, giữ vững kỷ cương, nền nếp dạy và học, duy trì kết quả xóa mù chữ và phổ cập cấp I. Giáo dục mũi nhọn, trường chuyên đạt kết quả tốt, số học sinh giỏi từ cấp Thành phố trở lên mỗi năm một tăng. Các trường dạy nghề ở khu vực công lập và dân lập được mở rộng, ngày càng thu hút nhiều đối tượng có nhu cầu theo học.

Mạng lưới y tế từ cơ sở được củng cố, trạm xá phường, xã được nâng cấp, thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, tích cực phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng. Công tác truyền thông dân số và sinh đẻ có kế hoạch được đẩy mạnh, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,4% năm 1991 xuống 1,37% năm 1995.

Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa được đẩy mạnh. Đến năm 1995 có 70% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Năm 1995 các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao nhân các ngày kỷ niệm lớn được tổ chức từ cơ sở lên Thành phố rất sôi nổi, chất lượng được nâng lên, có hiệu quả thiết thực. Việc tổ chức cưới xin, ma chay dần đi vào nền nếp, giảm được tệ xa hoa, lãng phí.

Chính sách xã hội được quan tâm. Ngày 16 - 12 - 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập hệ thống Ngân hàng phục vụ người nghèo tỉnh Thanh Hóa. Thực hiện quyết định, Ngân hàng phục vụ người nghèo Thành phố đã được thành lập, do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Giám đốc. Việc ra đời Ngân hàng người nghèo tạo ra những điều kiện cơ bản cho một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo đói, được tiếp cận nguồn vốn phục vụ phát triển sản xuất, ổn định đời sống, phấn đấu thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.

Những năm 1990-1993, Mặt trận Tổ quốc tích cực thực hiện phong trào tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, vận động nhân dân đóng góp, xây dựng, tu bổ nghĩa trang và bia tưởng niệm liệt sĩ.

Trong 5 năm, thông qua đẩy mạnh phong trào "đền ơn đáp nghĩa", đã xây dựng mới 5 ngôi nhà tình nghĩa; phong trào xây dựng "quỹ tình nghĩa", "quỹ nhân đạo" ngày càng mở rộng. Nhiều tổ chức kinh tế, đoàn thể đảm nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Thực hiện có hiệu quả phong trào xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ khá và giàu chiếm 56%, không còn hộ đói.

Trong công tác trật tự trị an, tiếp tục thực hiện Thông tri số 05-TT/LN ngày 2-6-1990 của ngành Nội chính hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Thị ủy và sự phối kết hợp của các ngành, các cấp, sự giúp đỡ của nhân dân, cuộc vận động người phạm tội ra tự thú trên địa bàn đạt kết quả tốt. Trong cuộc vận động này, Công an Thị xã đã được tỉnh khen thưởng vì có nhiều thành tích.

Tháng 7-1991, đã tổ chức cuộc diễn tập phòng, chống bạo loạn và gây rối trên quy mô hai cấp: cấp Thị xã và cấp phường, xã (với sự tham quan rút kinh nghiệm của 10 huyện trong tỉnh) đạt kết quả tốt.

Việc triển khai có hiệu quả Chỉ thị 406/TTg của Thủ tướng Chính phủ về cấm buôn bán và đốt pháo nổ; các Nghị định 36/CP, 39/CP 40/CP của Chính phủ về trật tự an toàn giao thông đô thị, giao thông đường sắt, đường thủy nội địa; Nghị định 87/CP của Chính phủ về quản lý các hoạt động và dịch vụ văn hóa đã góp phần lập lại kỷ cương trên địa bàn Thành phố; công tác đấu tranh chống tội phạm kinh tế, chống tham nhũng, buôn lậu có chuyển biến tích cực. Mối quan hệ giữa các ngành nội chính ngày càng chặt chẽ. Số vụ vi phạm và tội phạm giảm trung bình 32%/năm, số vụ trọng án giảm trung bình 16%. Công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu. Số quân đào ngũ hàng năm giảm, có nhiều biện pháp tích cực để giải quyết số quân chưa trở lại đơn vị hoặc đào ngũ.

Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ luôn quan tâm. Hệ thống tổ chức cơ sở Đảng từng bước được sắp xếp lại cho phù hợp với quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị kinh tế và điều chỉnh quy mô phố, xóm. Số chi bộ, đảng bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh từ 19% năm 1991 tăng lên 44% năm 1995.

Đảng bộ đã bám sát các nhiệm vụ chính trị trước mắt, các quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, nội dung các nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ, để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên. Do vậy, ý thức Đảng, tính chiến đấu, vai trò tiền phong gương mẫu của đại bộ phận đảng viên được nâng lên.

Từ năm 1991 đến năm 1995 kết nạp được 503 đảng viên mới. Bên cạnh việc bổ sung lực lượng cho Đảng, việc xem xét và xử lý kỷ luật các trường hợp đảng viên sai phạm được Ủy ban kiểm tra Đảng thực hiện kịp thời, đúng mức. Trong 5 năm đã xử lý 682 đảng viên với các hình thức kỷ luật. Do đó, chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng lên. Đảng viên loại 1 tăng từ 67,8% năm 1991 lên 84,24% năm 1995; đảng viên loại 3 và 4 giảm từ 3,7% năm 1991 xuống còn 0,97% năm 1995.

Công tác xây dựng, củng cố chính quyền thường xuyên được quan tâm. Vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo luật định. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ra Nghị định số 37/CP thành lập Thành phố Thanh Hóa,vai trò, chức năng của bộ máy chính quyền đòi hỏi phải cao hơn, hoạt động Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân  từ Thành phố đến phường, xã đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, như: Hội Cựu chiến binh; Hội Phụ nữ; Liên đoàn Lao động; Hội Nông dân; Đoàn Thanh niên… có nhiều hình thức hoạt động thiết thực, cụ thể, phát huy sức mạnh của tổ chức và của mỗi thành viên, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Nhờ vậy, đã động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đơn vị. Nhiều đơn vị được công nhận là đơn vị có phong trào dẫn đầu của Tỉnh.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng bộ Thành phố trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc đổi mới cũng còn những tồn tại đáng kể.

Kinh tế hàng hóa chưa phát triển mạnh và chưa tương xứng với tiềm năng; sản phẩm hàng hóa còn ít, chất lượng, giá thành, mẫu mã còn ít sức cạnh tranh trên thị trường, các mặt hàng truyền thống có triển vọng bị mai một. Sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp chuyển biến chưa mạnh. Tư tưởng sản xuất nhỏ, bảo thủ, trì trệ mới được khắc phục một bước; chưa phát huy được tiềm năng kinh tế của vùng ven đô và vị trí tỉnh  lỵ. Trong công tác tài chính, vẫn còn tình trạng ngân sách thất thu, nhất là thuế. Việc xây dựng cơ bản còn nhiều lãng phí; tình trạng mua bán nhà đất diễn ra phức tạp. Trong công tác xây dựng Đảng, một số cơ sở Đảng yếu kém chậm được khắc phục, vai trò tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được phát huy đầy đủ. Chức năng quản lý nhà nước ở một số tổ chức, nhất là ở phường, xã có lúc, có nơi chưa được thể hiện đầy đủ, có hiệu lực cao.

Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn đó đã được Ban Chấp hành Đảng bộ thẳng thắn chỉ ra, đó là: "Do sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ chưa ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng. Điều kiện thực hiện và năng lực điều hành của các cấp chính quyền từ Thành phố đến cơ sở có lúc chưa đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân. Đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý giỏi…".

Mười năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986-1995), trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ Thành phố đã trải qua nhiều khó khăn gay gắt đan xen thuận lợi, thời cơ. Phát huy truyền thống của vùng đất có bề dày lịch sử hơn 190 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ Thành phố đã xác định rõ và đúng đắn phương hướng, nhiệm vụ để lãnh đạo phong trào cách mạng giành được nhiều thành tựu đáng tự hào, nổi bật là: Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ khó khăn, tiếp tục ổn định và có bước phát triển; cơ cấu kinh tế công nghiệp (bao gồm tiểu thủ công nghiệp) - thương nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp ngày càng định hình rõ nét; các hoạt động văn hoá - xã hội khởi sắc; quốc phòng - an ninh được đảm bảo. Bộ mặt Thành phố có nhiều đổi thay. Thành phố đã tạo được bước chuyển biến quan trọng từ nhận thức đến tổ chức thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đô thị. Với những thành tích đạt được khá toàn diện về kinh tế-xã hội, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã tặng cán bộ và nhân dân Thị xã cờ "Đơn vị thi đua đổi mới xuất sắc".

Qua lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, đội ngũ cán bộ đảng viên trưởng thành nhiều về mọi mặt, phát triển cả về chất lượng và số lượng. Qua đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Thành phố đã nhận thức đầy đủ hơn vai trò của Thành phố là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Tỉnh, coi đó là động lực quan trọng để xây dựng và phát triển đô thị tỉnh lỵ. Chính nhờ sự phát triển đó mà Thị xã đã được Chính phủ quyết định nâng cấp lên Thành phố. Trong điều kiện, hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, nhất là về kinh tế, vốn đầu tư, những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân Thành phố đạt được trong chặng đường đầu của thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng là rất quan trọng, tạo ra những tiền đề cần thiết để cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thực hiện chủ trương của Đảng và kế hoạch của Tỉnh ủy về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp, sáng ngày 29-3-1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thanh Hoá lần thứ XVI, nhiệm kỳ 1996-2000, đã khai mạc trọng thể tại hội trường lớn của Thành uỷ. Dự Đại hội có 251 đại biểu thay mặt cho hơn 9.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Phát biểu ý kiến đánh giá về thành tựu 10 năm đổi mới, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ dự và chỉ đạo Đại hội đã khẳng định: "So với nhiều năm trước đây, bức tranh toàn cảnh về kinh tế - xã hội của Thành phố Thanh Hóa đã có những thay đổi rất đáng phấn khởi. Cùng với những thành tựu trên và sự kiện trọng đại, là Thành phố vừa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân sẽ là hành trang tinh thần hết sức quan trọng tạo ra thế và lực mới để Đảng bộ và nhân dân Thành phố vững bước trên con đường hoà nhập vào sự phát triển của đất nước và khu vực”.

Quán triệt tinh thần dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII sẽ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV, phát huy những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, Đại hội đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ chung của Thành phố từ năm 1996-2000 là: "Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trọng tâm là phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tập trung củng cố và xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, đảm bảo kỷ cương, công bằng xã hội, tiếp tục xây dựng Thành phố ngày càng giàu đẹp, văn minh…".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XVI gồm 35 uỷ viên. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ gồm 11 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm được bầu làm Bí thư Thành uỷ; đồng chí Nguyễn Đức Thắng làm Phó Bí thư Thường trực; đồng chí Mai Văn Minh làm Phó Bí thư (phụ trách chính quyền).

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV (từ ngày 7 đến 10-5-1996) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu những năm 1996-2000: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát huy tiềm năng của các vùng kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có chính sách khai thác vốn bên trong, thu hút vốn bên ngoài để phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng nhất là giao thông. Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động. Tăng cường tiềm lực quốc phòng-an ninh, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân. Tiếp tục cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền; củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt công tác tư tưởng, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, chống mọi biểu hiện bảo thủ, thỏa mãn, thụ động, trì trệ.

Sau Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV, trên cơ sở định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ 1996-2000, Thành ủy đã cụ thể hóa thành nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện trong từng năm, để các ngành, các đơn vị và các phường, xã phấn đấu hoàn thành.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI, nền kinh tế của Thành phố có bước phát triển rõ rệt. Đến năm 2000, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) tăng bình quân 13,4%/năm, gấp 1,9 lần so với bình quân chung của toàn tỉnh, hầu hết các ngành kinh tế đều có mức tăng trưởng khá.

Công nghiệp quốc doanh tiếp tục ổn định và phát triển cả về giá trị và quy mô, giá trị sản lượng công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12,9%/năm. Nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã khẳng định vị thế trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, năm 1999 có 30% số đơn vị làm ăn có lãi, thực hiện nộp ngân sách đầy đủ cho Nhà nước. Công nghiệp ngoài quốc doanh tiếp tục khởi sắc, năm 1999 giá trị sản lượng đạt 88 tỷ 150 triệu đồng (tăng 8,6% so với năm 1998).

Cuối năm 1999, trên địa bàn Thành phố đã hình thành khu công nghiệp Lễ Môn; thành lập 4 công ty cổ phần: Nước mắm Thanh Hương, Phân Lân Hàm Rồng, Vận tải hành khách và Sửa chữa ô tô 19-5.

Bên cạnh những sản phẩm công nghiệp-tiêu dùng truyền thống, đã hình thành những sản phẩm công nghiệp mới như Giầy Đông Thành. Dịch vụ thương mại phát triển; thành lập Công ty Cổ phần ăn uống Dạ Lan. Chợ Vườn Hoa (mới) được đưa vào sử dụng, hàng hoá phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; cấp mới 1.200 giấy phép kinh doanh. Công tác quản lý thị trường được thực hiện chặt chẽ, có 4.939 hộ được quản lý trong sổ bộ thuế. Đến năm 2000, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ đạt 9%/năm. Kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng,...

Sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có nhiều chuyển biến tích cực: tổng diện tích gieo trồng năm 1999 đạt 5.993 ha, tổng sản lượng quy thóc đạt 22.484,2 tấn (bằng 102,3% kế hoạch, tăng 10,6% so với năm 1998; năng suất đạt bình quân 45,14 tạ/1 ha). Tính đến năm 2000, nông nghiệp tăng 14,2%/năm. Thành phố đã tổng kết công tác sản xuất và phong trào sản xuất giỏi năm 1999. 

Tổng thu ngân sách năm 1999 đạt 33,68 tỷ đồng, chi ngân sách đã ưu tiên đầu tư cho xây dựng cơ bản (tổng chi ước đạt 30,5 tỷ đồng) trong đó chi cho xây dựng cơ bản 11 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách quý I-2000 đạt 8 tỷ 127 triệu đồng, vượt 21% kế hoạch, tăng 25% so với cùng kỳ.

Quá trình đô thị hóa được quan tâm theo hướng hiện đại hóa. Ngày 26-3-1997, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về xây dựng và phát triển Thành phố. Đây là nghị quyết quan trọng, thể hiện rõ những quan điểm, chủ trương lãnh đạo phát triển Thành phố trong thời kỳ mới. Hằng năm, Thường vụ Tỉnh ủy đều trực tiếp nghe Ban Thường vụ Thành ủy báo cáo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp phát triển của Thành phố, qua đó, cho ý kiến chỉ đạo thực hiện.

Quy hoạch chung xây dựng Thành phố đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở đó, Thành phố tập trung xây dựng và đẩy mạnh quy hoạch chi tiết các khu trung tâm, phía Nam khu trung tâm, khu du lịch Hàm Rồng; thực hiện quy hoạch các công trình trọng điểm. Hệ thống thoát nước nội thành đã được quy hoạch và trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt; tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch phường, xã;...

Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị, đến năm 2000, nhiều công trình trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, như: Quốc lộ 1A đoạn qua Thành phố, đường từ cầu Hoàng Long đến Quốc lộ 1A, đường 1B từ cầu Hoàng Long đến ngã tư trước trụ sở Công an Thành Phố, chợ Vườn Hoa, Nhà thi đấu thể thao, cầu Đông Hương, rải thảm nhựa 20 km đường nội thành; triển khai thực hiện dự án cấp nước Thanh Hoá - Sầm Sơn; xúc tiến quy hoạch và triển khai xây dựng các khu đô thị mới, xây dựng nhà ở để bán, có đủ hạ tầng kỹ thuật,… Xây dựng bãi chứa và xử lý rác thải mới Phú Sơn; xây dựng nghĩa trang Chợ Nhàng, xóa dần nghĩa địa ở các phường, xã.

Vấn đề phát triển đô thị và quản lý đô thị được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực chặt chẽ, khoa học hơn. Đẩy mạnh việc xây dựng các tuyến điện chiếu sáng, cây xanh, công viên, ngoài tuyến Quốc lộ 1A, còn thực hiện ở các Đại lộ Lê Lợi, Lê Hoàn, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Trãi, Lê Lai,… phát triển Thành phố theo hướng “Sáng, xanh, sạch, đẹp”. Thực hiện có kế hoạch và khoa học việc đặt tên đường phố, số nhà, khắc phục tình trạng “nhà không số, phố không tên”, xây dựng vỉa hè, hệ thống cống thoát nước cho các đường phố để “đường ra đường, hè ra hè”; chấn chỉnh việc xây dựng nhà ở các dãy phố, khắc phục tình trạng mất mỹ quan trong xây dựng,…

Đặc biệt, ngày 19-5-2000, đúng kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Tỉnh cùng với Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Thành phố tổ chức lễ khởi công xây dựng Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trung tâm Thành phố, nơi Người đã nói chuyện với đông đảo nhân dân Thành phố vào chiều tối ngày 20-2-1947. Công trình có diện tích 12.125m2, với 2 khu: Nơi dâng hương tưởng niệm Bác Hồ và nơi trưng bày hình ảnh, hiện vật Bác Hồ với Thanh Hoá và Thanh Hoá làm theo lời Bác. Tổng mức đầu tư (dự toán) là 9.464.000.000 đồng. Nhân sự kiện lịch sử quan trọng này, Mặt trận Tổ quốc Tỉnh đã phát động phong trào vận động nhân dân toàn tỉnh đóng góp tiền của, công sức xây dựng khu tưởng niệm Bác Hồ. Ngay sau lễ phát động, nhiều cơ quan, tập thể và cá nhân đã đóng góp hàng trăm triệu đồng, thể hiện tình cảm đặc biệt thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm thực hiện thắng lợi những di huấn của Người. Sau hơn một năm thi công, ngày 1-9-2001, công trình đã hoàn thành, đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thành phố và Tỉnh Thanh Hóa.

Các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục, thông tin tuyên truyền được duy trì và phát triển. Quán triệt Nghị quyết Trung ương (Khóa VIII) Về giáo dục - đào tạo  Khoa học- công nghệ, các cấp ủy, chính quyền chỉ đạo ngành giáo dục phát triển giáo dục toàn diện. Học sinh trong độ tuổi đến lớp tăng lên. Hệ thống trường lớp được sắp xếp hợp lý hơn. Cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, bước đầu đáp ứng yêu cầu dạy và học, xây dựng trường Trung học phổ thông Hàm Rồng và 6 trường trung học cơ sở, trường tiểu học kiên cố cao tầng.

Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình được các cấp, các ngành quan tâm. Ngành y tế Thành phố có nhiều cố gắng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố một bước tạo điều kiện cho việc triển khai và thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế, như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh phong, lao, suy dinh dưỡng trẻ em, sốt rét, bướu cổ...

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Thành ủy đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; Mặt trận Tổ quốc và ngành văn hóa đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá, phố, làng văn hoá, gia đình văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh, năm 1999 đã hình thành 45 làng, phố văn hoá. Các địa phương chú trọng khai thác, giữ gìn, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Phong trào văn nghệ quần chúng, nhất là vào dịp lễ hội và Tết cổ truyền của dân tộc được quan tâm, từ đó khơi dậy tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân.

Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp. Năm 1998, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo quy hoạch đất xây dựngsân chơi, bãi tập và mua sắm phương tiện cần thiết trang bị cho vận động viên. Năm 2000, thực hiện cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, các cơ quan, xí nghiệp, các phường, xã trên địa bàn Thành phố cùng các huyện, thị trong tỉnh đã tổ chức lễ phát động. Đoàn thanh niên Thành phố phát động phong trào “Tuổi trẻ khỏe để lập nghiệp và giữ nước”. Thành phố cùng các ngành, địa phương trong tỉnh phát động phong trào “Ngày đi bộ trong toàn tỉnh”.

Các chính sách xã hội được quan tâm, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện, vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai,... được sự tham gia hưởng ứng tích cực trong các tầng lớp nhân dân, trở thành nét đẹp trong đời sống xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của các đối tượng chính sách không ngừng được nâng lên; đời sống của nhân dân tiếp tục được ổn định và cải thiện, giảm tỷ lệ đói nghèo từ 5,72 % xuống 4,75%. Năm 2000, bình quân thu nhập đầu người đạt 620 USD/người.

Với những nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ và nhân dân Thành phố về thực hiện các chính sách xã hội nói chung và công tác thương binh, liệt sĩ, phong trào đền ơn đáp nghĩa nói riêng, ngày 22-7-1997, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 1303 KT/CT tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho cán bộ và nhân dân Thành phố Thanh Hoá, đã có thành tích xuất sắc trong công tác thương binh, liệt sĩ và phong trào đền ơn, đáp nghĩa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác quốc phòng - an ninh được các cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên chăm lo. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia, chống “diễn biến hòa bình”, đồng thời thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến lược an ninh quốc gia, Thành ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, xây dựng kế hoạch tác chiến ở từng phường, xã, đồng thời xây dựng kế hoạch phòng thủ vững chắc, sẵn sàng ứng phó thắng lợi mọi tình huống xảy ra.

Thực hiện Nghị quyết số 09/CP của Chính phủ và Quyết định số 139-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tăng cường công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các cấp, các ngành tích cực đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, số đề... Lực lượng công an làm tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đấu tranh chống các loại tội phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các cấp ủy Đảng quan tâm.

Thế trận quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định tạo điều kiện, môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 22-8-1998, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 424-KT/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho nhân dân và lực lượng vũ trang tiểu khu Hàm Rồng (nay là phường Hàm Rồng). Ngày 11-6-1999, Chủ tịch Nước ký  Quyết định số 203-KT/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho nhân dân và lực lượng vũ trang các xã, tiểu khu: Phú Sơn (nay là phường Phú Sơn); Nam Ngạn (nay là phường Nam Ngạn), Đông Thọ (nay là phường Đông Thọ và xã Đông Cương).

Hệ thống chính quyền được củng cố một bước. Cùng với tổng kết hoạt động Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 1994-1999, ngày 14-11-1999, Thành phố đã tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố và phường, xã, nhiệm kỳ 1999-2004. Kết quả, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố đã bầu được 35 đại biểu. Sau bầu cử, cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân Thành phố và phường, xã được kiện toàn một bước. Tại kỳ họp thứ nhất ngày 27-12-1999, Hội đồng nhân dân Thành phố bầu đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân, đồng chí Bùi Tường Hỷ giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân đã tuân thủ đúng quy chế, chức năng, nhiệm vụ được xác định; từng bước đổi mới phương thức làm việc. Các kỳ họp Hội đồng nhân dân được cải tiến một bước. Những nghị quyết về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Hình thức tiếp xúc cử tri được đổi mới. Hoạt động của Ủy ban nhân dân được cải tiến theo tinh thần cải cách hành chính, có nhiều chuyển biến tích cực trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương. Công tác điều hành có nhiều đổi mới trên lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội; Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức định kỳ giao ban cụm.

Công tác dân vận được củng cố từng bước, quy chế dân chủ đi vào cuộc sống. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đổi mới, ngày 20-8-1997, Ủy ban nhân dân Tỉnh ra Quyết định số 1806-QĐ/UB kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác tôn giáo, nhằm tăng cường chức năng quản lý Nhà nước về các hoạt động tôn giáo trên địa bàn toàn tỉnh. Theo Quyết định này, Ban Tôn giáo Thành phố Thanh Hóa (cùng Ban Tôn giáo các huyện) được thành lập do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Trưởng Ban. Ban có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân Thành phố đề ra chủ trương, giải pháp thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh về công tác tôn giáo.

Mặt trận Tổ quốc vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thi đua lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng nếp sống văn hóa mới; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dântập hợp quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương, đồng thời phát động phong trào “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách” và vận động nhân dân xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào các tỉnh bị thiên tai...

Hội Phụ nữ vận động các hội viên thực hiện tốt các nội dung chương trình công tác trọng tâm của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, đồng thời động viên chị em tích cực tham gia các phong trào: Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, Nuôi con khỏe dạy con ngoan, Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, Xây dựng gia đình văn hóa mới,

Từ tháng 5-1996, Đoàn thanh niên Thành phố tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương Đoàn lần thứ 2 khóa VI và thực hiện 5 chương trình do Tỉnh đoàn phát động, trong phong trào thi đua “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”Trong những năm 1996-2000, Thành đoàn phát động sâu rộng trong các tổ chức đoàn cơ sở các phong trào: Vì ngày mai lập nghiệp, Thanh niên với cuộc đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, Thanh niên với vấn đề về sức khỏe và dân số kế hoạch hóa gia đìnhphối hợp với ngành giáo dục thực hiện tốt các phong trào đoàn, đội ở trường học.

Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh tích cực vận động hội viên tham gia các phong trào: Giúp nhau làm kinh tế gia đình, Xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa… Hoạt động của Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh đã góp phần động viên nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Đảng bộ Thành phố thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức, cán bộ và đảng viên. Trong công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, Đảng bộ luôn quán triệt phương châm: phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Thành ủy đã tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện các bước, đảm bảo đúng quy trình và đạt kết quả tốt. Ý thức phê bình và tự phê bình trong cán bộ, đảng viên được đề cao.

Trong công tác tổ chức, cán bộ, Đảng bộ quán triệt sâu rộng Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) Khóa VIII về tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với đổi mới, chỉnh đốn tổ chức cơ sở Đảng. Nhờ vậy, số cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Kết quả phân loại năm 1999, có 63/104 tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh bằng 62,1%; tỷ lệ đảng viên loại 1 đạt 90,9%, loại 2 là 54%; loại 3 và 4 giảm còn 0,56%.

Đi đôi với tăng cường củng cố cơ sở Đảng, nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, Đảng bộ cử nhiều cán bộ tham dự các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và quản lý Nhà nước do Trung ương và tỉnh mở; mở lớp bồi dưỡng chính trị phổ thông cho đảng viên.

Trong công tác cán bộ, Đảng bộ chú trọng đánh giá cán bộ từ phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị đến năng lực công tác và uy tín với nhân dân. Về phát triển đảng viên mới, đến năm 1999, đã kết nạp 311 đảng viên.

Thực hiện Điều lệ Đảng, hàng năm Thành ủy quan tâm chỉ đạo công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng. Qua kiểm tra các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên đã góp phần giáo dục và ngăn chặn những hiện tượng vi phạm kỷ luật Đảng của đảng viên và tổ chức Đảng; góp phần củng cố các cơ sở Đảng yếu kém. Ngoài ra, Ủy ban kiểm tra Thành phố giải quyết có hiệu quả đơn thư khiếu nại của nhân dân theo đúng nguyên tắc và quy định về công tác kiểm tra Đảng.

Năm 2000, năm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ và là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó, Đảng bộ Thành phố đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, ổn định và tiếp tục nâng cao đời sống nhân dân, đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, nhất là tệ nạn ma túy, đảm bảo an ninh và trật tự an toàn xã hội, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; củng cố và tăng cường vai trò hệ thống chính quyền, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ghi nhận những thành tích xuất sắc của Thành phố từ năm 1994 - 1998 góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, ngày 21-2-2000, Chủ tịch Nước ký Quyết định số 20 KT/CTN tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Hai cho nhân dân và cán bộ Thành phố Thanh Hóa.

Trải qua 15 năm cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, bước đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Đảng bộ Thành phố đã trăn trở, tìm hướng đi lên trên con đường đổi mới quê hương. Các nghị quyết của Đảng bộ Thành phố đã thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo trong việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhờ sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và sự nỗ lực của các tầng lớp nhân dân, kinh tế - xã hội của Thành phố có sự chuyển biến đáng kể. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ngày càng được cải thiện. An ninh quốc phòng được củng cố; diện mạo quê hương hoàn toàn đổi mới, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Khởi nguồn của những biến đổi hết sức lớn lao và sâu sắc ấy là đường lối đổi mới của Đảng, sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Thành phố.

Trong hoàn cảnh rất khó khăn, với ý thức tự lực, tự cường, Đảng bộ Thành phố đã quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao lòng tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững sự ổn định chính trị, quốc phòng-an ninh. Mặt khác, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các ngành, các cấp, các địa phương trong và ngoài Tỉnh, của Thị xã Hội An kết nghĩa, tạo ra tiền đề quan trọng và  vững chắc cho bước phát triển cao hơn của Thành phố vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI.




Báo cáo tổng kết năm 1987, phương hướng nhiệm vụ năm 1988. Lưu tại Văn phòng Thành ủy. Trang 12.

Xem: Ban Chấp hành  Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, 1975-2000, Tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản, tháng 12-2005, tr.262-263.

Báo cáo của BCH Đảng bộ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIV ngày 29-1-1989.

Tháng 7-1989, đồng chí Trần Văn Lãm - Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị xã được Tỉnh ủy điều động nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Trịnh Đình Bốn được Tỉnh ủy chỉ định là Quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thị xã từ tháng 7 đến tháng 11-1989.

Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa khóa XIV tại Đại hội Đại biểu khóa XV (vòng II) trang 18.

Báo cáo của Ban Chấp hành  Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa tại Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV tháng 3-1994.

Từ đô thị loại 4 lên đô thị loại 3, Thành phố Thanh Hóa tiếp nhận thêm xã Đông Cương (thuộc huyện Đông Sơn), các xã: Quảng Hưng, Quảng Thành và một phần xã Quảng Thịnh (thuộc huyện Quảng Xương)

Bài phát biểu của đồng chí Lê Văn Tu tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Thanh Hoá lần thứ XVI nhiệm kỳ 1996-2000. Tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ.

Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa XV tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI. Tháng 3-1996.

 

(Post by: Trần Chiến; Nguồn sách Lịch sử Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa 1945-2010 do Thành ủy TP Thanh Hóa biên soạn và xuất bản 5/2014)